Два крыла - Đôi cánh (VI) (сборник стихотворений – tập thơ) Май Ван Фан – Mai Văn Phấn. Перевод Елизаветы Коздоба – Bản dịch của Elizaveta Kozdoba

Maй Baн Фан - Mai Văn Phấn

Подстрочный перевод - Dịch nghĩa:

Светлана Глазунова - Svetlana Glazunova*

Поэтический перевод - Dịch thơ:

Елизаветы Коздоба - Elizaveta Kozdoba**

 

 

 


Nhà thơ-Dịch giả Elizaveta Kozdoba 

 

 

 

 


Bìa 1 tập thơ “Два крыла - Đôi cánh”




maivanphan.com: Nhà xuất bản Нонпарелъ tại thủ đô Matxcơva, Liên bang Nga vừa ấn hành tập thơ song ngữ Việt – Nga đầu tiên của tôi, mang tên “Два крыла - Đôi cánh” (quý bạn đọc yêu thích tiếng Nga có thể download theo đường link này!). Tập thơ do nhà thơ Elizaveta Kozdoba dịch sang tiếng Nga qua bản dịch nghĩa từ tiếng Việt của nhà Việt Nam học Svetlana Glazunova. Tập thơ gồm 29 bài thơ và 1 liên khúc, do họa sỹ Vladimir Arbekov thiết kế. Tôi xin gửi tới các dịch giả, họa sỹ và các biên tập viên Nhà xuất bản “Нонпарелъ” lời cảm ơn trân trọng! Qua tập thơ nhỏ này, tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới các Thầy-Cô giáo của Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là trường Đại học Hà Nội) và Trường Đại học Sư phạm (Belarus) mang tên nhà văn Macxim Gorky, nơi tôi và bạn bè đã từng học tập và biết ơn mãi mãi! Tôi sẽ lần lượt gửi tới quý bạn đọc tập thơ “Два крыла - Đôi cánh” trên website này!

 

 



Купание в начале года

 

 

Сколько б я ни мылся, не мог почувствовать себя

абсолютно чистым.

 

И я вернулся, чтобы вымыть себя

светом лампы.

Подставил к лампе плечи,

Обе руки,

Ступни, подбородок, колени,

Свои глаза и даже сухой кашель

свой подставил

 

Я лил свет в каждый уголок укромный,

В потаенный угол, который был,

как терминатор для ростков,

Как горячая сталь, которую

закаляют, опуская в шипящую воду,

Как яйцо в насиженном гнезде, -

привитый ствол, пустивший боковые ветви.

 

Я принимаю ванну, ожидая новую весну.

ныряя в свет,

Взываю шепотом к своим предкам.

и тело поднимается к свету лампы.

 

Под льющимся ярким светом

произношу твое имя.

Свет плавно покачивается,

как живот у беременной.

Я пробую позвать его, - того,

кто ещё очень далеко.

Свет лампы застывшей

всё ярче и ярче.

 

 

 

 

Держу тебя во рту

 

 

Я всегда представляю и верю, что держу тебя во рту -

 

Там, где никогда нет войн, чумы,

Сплетен и пересудов, ловушек и обмана,

Чтоб на твоём пути больше не было острых шипов.

Я построю стену, чтоб преградить

Путь к тебе бушующим тайфунам.

 

Ты легонько толкаешься плечами,

Упираешься грудной клеткой,

Пальцами ног в мои щёки.

Болтая и тихонько напевая,

Непринужденно позволяешь

моему языку и зубам

касаться твоего тела.

Во рту у меня ты защищена,

и можешь быть спокойной.

 

Я - рыба, чей рот переполнен лунным светом.

Я покидаю стаю и устремляюсь в бушующее море.

 

 

 

 

Слушая тебя по телефону

 

 

Твой голос в телефоне такой чистый и легкий,

Как только что впитавшаяся капля воды,

Как едва проклюнувшийся росток,

Как спелый плод упавший,

И как ручей журчащий.

На другом конце провода вдали-рисовые поля, крестьяне с плетёнными корзинами на коромыслах. Машины, башни, корни глубокие... Твой голос не преодолевает их, а превращает в миниатюры, как бы приоткрывая между ними двери. Слушая тебя, я с помощью глубоко уходящих корней открываю множество чудесных видений в слоях теплой земли: река, заполняющая корзины на коромыслах, деревни, где вырастают процветающие башни, ярко-зелёные на фоне машин поля.

Продолжай. продолжай говорить пустые, ничего незначащие слова! Ведь через минуту, когда ты положишь трубку, всё станет таким. как прежде., обыденным.

Остались только вдали бегущие рябью волны,

Только растворяющийся в хлорофилле

Доносящийся издали сладкий аромат нежности,

Остались только шаткие каменные берега.

 

 

 

 

Камень в русле горной реки

 

 

Лежит спокойный и безмолвный,

Омываемый водами,

потоками бурлящими, бесконечно несущимися,

леденящими его тело

 

Значит, пришла весна?

Цветущие водоросли взбираются плетью

по истертому следу камня.

В унисон звукам бурлящих потоков

Сверху льется щебет птиц.

 

Тень дерева, нависшего над каменной глыбой,

колышется, то затеняя, от открывая его солнцу.

Как можно сохранить красоту диких цветов

нетронутой, вечной

Спокойно закрыв глаза, камень позволяет

шумному потоку воды проноситься над ним.

 

Серолапые мартышки

Раскачивают тень деревьев.

Беспорядочно падают капли моросящего дождя,

Просачиваясь в самые потаённые щели.

 

Облака неподвижно застыли на месте.

По лесу распространяется запах

спелой гуайявы.

Ёж встопорщил иглы и неподвижно замер.

 

Превыше всего в этот момент

Каждому спокойно оставаться на своём месте.


(От сборника “Два крыла”)

 

 

 

 


Nhà Việt Nam học Svetlana Glazunova

 

 

 

Bìa 4 tập thơ “Два крыла - Đôi cánh”

 

 

 

Tắm đầu năm

 

 

thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch

quay về tắm bằng ngọn đèn

 

thử đưa bờ vai về phía ánh sáng

rồi hai tay

bàn chân, cằm, đầu gối

cả đôi tròng mắt và tiếng ho khan

 

xối ánh sáng vào từng góc khuất

góc khuất như lò thúc mầm

như thép nóng đem tôi vào nước

như quả trứng trong ổ đang ấp

rễ thân cành đã chiết đâm ngang

 

tắm gội cho mùa xuân về

vừa lặn vào ánh sáng

vừa gọi thầm ông bà, cha mẹ

cơ thể bốc cao về phía ngọn đèn

 

vừa xối mạnh vừa gọi tên em

ánh sáng bồng bềnh bụng mang dạ chửa

thử gọi một ai xa lắc xa lơ

ngọn đèn lặng phắc càng tỏ

càng tỏ

 

 

 

 

Ngậm em trong miệng

 

 

Luôn tin có em trong miệng anh

 

Nơi không chiến tranh, dịch hạch

Mũi tên bắn lén tẩm độc

Thị phi, cạm bẫy, lọc lừa

Lối em đi không còn gai nhọn

Bão tràn qua anh dựng tường ngăn

 

Bình yên trong miệng anh

Em thúc nhẹ bờ vai

Vòm ngực, ngón chân vào má

Huyên thuyên và hát thầm

Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể

 

Anh là con cá miệng giàn giụa trăng

Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động

 

 

 

 

Nghe em qua điện thoại

 

 

Tiếng em trong điện thoại rất trong và nhẹ

            Một giọt nước vừa tan

            Một mầm cây bật dậy

            Một quả chín vừa buông

            Một con suối vừa chảy

Khoảng cách tới đầu dây bên kia là ruộng đồng, làng mạc, quang gánh. Là xe cộ, tháp dựng, rễ sâu. Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại, mở thông những cánh cửa sang nhau. Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ.

Nói tiếp cho anh những câu bâng quơ không nội dung

Lát nữa em đặt ống nghe, chắc mọi vật sẽ loay hoay tìm về đường cũ

            Chỉ còn gợn sóng lan xa

            Chỉ còn tan trong diệp lục

            Chỉ còn thoảng bay dịu ngọt

            Chỉ còn bờ đá lung lay

 

 

 

 

Đá trong lòng suối

 

 

Lặng yên cho nước chảy

Xối xả lâu lạnh toát mình đá

 

Mùa Xuân đấy sao?

Dây hoa leo đường mòn

Tiếng chim dội xuống róc rách

 

Bóng cây xao động tảng đá lúc râm lúc nắng

Sắc hoa dại kia sao bình yên mãi được

Đá nhắm mắt an nhiên nước cuốn

 

Mấy con voọc chà vá chân xám

Lại làm bóng cây dâng cao dập dềnh

Mưa bụi bay lung tung

Thấm ướt nơi sâu kín nhất

 

Mây dừng nơi mây

Mùi ổi chín thơm len lỏi trong rừng

Một con nhím xù lông bất động

 

Hơn hết lúc này

Ai hãy ở yên chỗ đó.


M.V.P

 

(Rút từ tập thơ “Đôi cánh”)

 

 

 

 

(*) Глазунова Светлана Евгеньевна - преподаватель вьетнамского языка. В 1995 г. окончила Факультет Международных отношений (восточное отделение) МГИМО (Университет) МИД РФ. В октябре 1992 - июне 1993 г. и в октябре 1995 - мае 1996 г. проходила стажировку в Ханойском Государственном Университете на факультете вьетнамского языка. С 1996 г. работает преподавателем вьетнамского языка на кафедре китайского, вьетнамского, тайского, лаосского, кхмерского и бирманского языков МГИМО (У) МИД РФ. В настоящее время является старшим преподавателем кафедры. Активно работает в области устного и письменного перевода. Выступала в качестве редактора "Учебного пособия по реферированию вьетнамской прессы" (для старших курсов) Л.Л. Сандаковой (Изд. "МГИМО - Университет" 2004). Привлекалась к работе над первым томом Большого вьетнамско-русского словаря (Изд. "Восточная литература" РАН 2006). 





Svetlana E. Glazunova
 - Giảng viên tiếng Việt. Năm 1995 chị tốt nghiệp Khoa Quan hệ Quốc tế (Ban Phương Đông học) thuộc trường Đại Học Quan hệ quốc tế quốc gia Maxcơva (MGIMO - Bộ Ngoại giao Nga). Từ 10/1992 - 6/1993 và 10/1995 - 5/1996 chị thực tập tại Khoa tiếng Việt trường Đại học quốc gia Hà Nội. Từ năm 1996 Svetlana E. Glazunova là giảng viên tiếng Việt tại Ban tiếng Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Khmer và Miến Điện thuộc Bộ Ngoại giao Nga. Hiện chị là giảng viên cao cấp của các Ban trên. Ngoài ra, chị hoạt động tích cực trong lĩnh vực dịch thuật. Tham gia biên tập “Giáo trình nâng cao kỹ năng báo chí Việt Nam” của tác giả L.L. Sandakova (Nxb. Đại học Quan hệ quốc tế quốc gia Maxcơva, 2004). Tham gia biên soạn cuốn I đại Từ điển Việt - Nga (Nxb. “Văn học phương Đông”, Viện Hàn lâm khoa học Nga, 2006).

 

 

 


(**) Елизавета Захаровна Коздоба – поэт, прозаик, переводчик, публицист. Родилась в городе Долинское Кировоградской области. Отец Захар Иванович Коздоба был агрономом, мать Домникия Тимофеевна Коздоба – актрисой. После окончания средней школы в городе Кирово - граде (УССР) Е.З. Коздоба изучала языки на отделении структурной и прикладной лингвистики в Киевском государственном университете имени Т.Г. Шевченко. Обучаясь в аспирантуре в Московском государственном университете имени М.В. Ломоносова, была корре - спондентом и ответственным секретарём “Информа - ционного бюллетеня” Союза писателей СССР. Много путешествовала, занимаясь творческой журналистской и  итературной деятельностью. Её статьи и поэтические произведения печатались в отечественных и зарубежных СМИ. Выпустила 6 поэтических сборников. Е.З. Коздоба – лауреат литературных премий имени К. Симонова и В. Пикуля. Её стихотворения переведены на украинский, турецкий, польский, болгарский, испан - ский, английский и другие языки. В последнее время ав - тор сотрудничает с международным журналом “Золотая площадь”, совместно с испанскими и русскими поэтами выпускает испанско-российскую двуязычную антологию “Валенсия – Москва”, является вице-президентом реги - ональной общественной организации “Женский клуб “МОСКВИЧКИ” и носит почётное звание “Заслуженный работник культуры России”. 




Elizaveta Zakharovna Kozdoba - nhà thơ, nhà văn, dịch giả, nhà chính luận. Bà sinh tại thành phố Dalinskove tỉnh Kizovograd. Cha bà là Zakhar Ivanovich Kozdoba, kỹ sư nông học, mẹ là nữ nghệ sĩ Domnikya Timofrevna Kozdoba. Sau khi tốt nghiệp trường phổ thông ở thành phố Kirovograd (Cộng hòa U-crai-na, Liên Xô cũ). E.Z. Kozdoba nghiên cứu các ngôn ngữ ở hệ ngôn ngữ học cấu trúc và ứng dụng tại trường Đại học Tổng hợp quốc gia Kiev mang tên T.G. Shevchenko. Học nghiên cứu sinh tại Đại học quốc gia Matxcơva mang tên M.V. Lomonosov. Phóng viên và thư ký đại diện tờ báo “ Bản tin” của Hội Nhà văn Liên Xô (cũ). Đã tham quan nhiều nơi trên thế giới, tham gia các hoạt động sáng tạo báo chí và văn học. Bài viết và tác phẩm của E.Z. Kozdoba từng đăng ở báo chí trong nước và nước ngoài. Đã xuất bản 6 tập thơ. Từng đoạt các giải thưởng mang tên K. Simonov và V. Pikul. Thơ E.Z. Kozdoba đã được dịch sang tiếng U-crai-na, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tây Ban Nha, Anh và các ngôn ngữ khác. Gần đây, tác giả đã hợp tác với tạp chí quốc tế “Quảng trường vàng” và cùng nhóm nhà thơ Tây Ban Nha và Nga xuất bản truyện thơ song ngữ Tây Ban Nha - Nga “Valenxia - Matxcova”.  là phó chủ tịch tổ chức xã hội - Câu lạc bộ phụ nữ mang tên “Phụ nữ Matxcơva”. Được vinh danh: “Nhà hoạt động văn hóa công huân Nga”.

 

 

 

 
Gấp mép bìa 1





Gấp mép bìa 4





 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 4 




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị