Два крыла - Đôi cánh (VIII) (сборник стихотворений – tập thơ) Май Ван Фан – Mai Văn Phấn. Перевод Елизаветы Коздоба – Bản dịch của Elizaveta Kozdoba

Maй Baн Фан - Mai Văn Phấn

Подстрочный перевод - Dịch nghĩa:

Светлана Глазунова - Svetlana Glazunova*

Поэтический перевод - Dịch thơ:

Елизаветы Коздоба - Elizaveta Kozdoba**

 

 

 


Nhà thơ-Dịch giả Elizaveta Kozdoba 

 

 

 

 


Bìa 1 tập thơ “Два крыла - Đôi cánh”

 

 



Сохраняя спокойствие, провожаю гостя за ворота

 

 

Заварив чай в чайнике,

Вернулся,

А гостя уже нет.

Звоню по телефону -

Его домашние сообщают,

что вот уже семь лет, как он умер.

Умопомрачение...

 

В моем доме

Полный переполох:

Не помню, когда сняли

Со стены портрет,

Где заводные механические часы

Чайный сервиз... кто дал его,

выдав за старинный?

 

К соседям заглянул,

Спросил о ценах на продукты -

Какие-то подорожали,

Другие - в прежней цене

 

А в доме чай стоит, ещё горячий

Подвинул чашку, где сидел мой гость.

 

Струя смертоносного пара

взвилась перед глазами на высоту

полутора метров и более...

Спустя мгновенье опустилась вниз.

 

 

 

 

Порыв ветра

 

 

Мы целовались в узком коридоре,

На зелёной траве,

На колокольне, под сенью векового дуба -

 

Со всех сторон по щиколотку к ногам подступала вода.

И в этот миг в сильном порыве ветра

 

Паденица, промерив тебя, раскачавшись,

переползла на меня,

Поедая молодые листочки зелени.

 

По-прежнему безмятежно летает пчела,

Монотонно шумит водопад, медленно падают

капли дождя.

Все верхушки деревьев наклонились

в одну сторону.

 

 

 

Случайные мысли на восходе солнца

 

 

У подножья горы скопилась вода.

На высокой скале

Лежит безмятежный камушек.

 

Ночью прошёл дождь.

Кто-то здесь сидел

до или после дождя,

 

И я вдруг почувствовал, как сильно скучаю по тебе.

Не смею даже пошевелиться:

Пропитываюсь голубым небом,

Чтобы оно проникло в меня (заполнило меня)

до самых ступней

 

Дождь следуя за дождём, ливень за ливнем,

Омывают этот маленький камушек,

И этот образ, возникнув,

Заставляет меня безумно

любить жизнь. Так,

 

Словно раннее солнце, освещая

лучами пики гор,

Сделало прозрачным чащу леса,

всё лоно земли.

 

 

 

 

По дороге к пагоде

 

 

Когда поднявшись по крутому склону,

Мы подходили к воротам пагоды,

В твоём лице промелькнул

образ бодхисаттвы Авалокитешвары:

 

В руках коричневая сумка,

Высокий воротник, широкая длинная юбка, белое кольцо,

Сияние нимба вокруг

Под ясным небесным куполом.

 

Мысленно падаю ниц,

Опустевшим телом

Искренне обращаюсь к мантре…

... "Ом мани падме хум"*.

 

В придорожных кустах

поднимается ветер,

И слышится рычание хищника,

убегающего в лесную чащу,

Ломающего с треском веточки кустарника.

 

_____________

(*) Тибетская мантра на санскрите, обращенная к бодхисаттве Авалокитешвара.

(От сборника “Два крыла”)

 

 

 

 


Nhà Việt Nam học Svetlana Glazunova

 

 

 

Bìa 4 tập thơ “Два крыла - Đôi cánh”

 

 

 

Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ

 

 

Pha xong ấm trà

Quay ra

Ông khách không còn ở đó

Gọi điện thoại

Người nhà bảo ông mất đã bảy năm

Nhầm lẫn

 

Nhà mình

Mọi sự đảo lộn

Không nhớ bức chân dung hạ xuống bao giờ

Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?

Bộ ấm chén giả cổ ai cho?

 

Ghé sang hàng xóm

Thử hỏi mấy loại thực phẩm

Loại tăng giá

Loại còn giữ giá.

 

Trong nhà

Trà vẫn nóng

Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi.

 

Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt

Chốc lại cúi gập.

 

 

 

 

Gió thổi

 

 

Chúng mình hôn nhau trong hành lang hẹp

trên cỏ xanh, trong những góc tối

trên tháp chuông, bên gốc cây cổ thụ...

 

Bốn bề nước tràn ướt chân

lúc ấy gió thổi rất mạnh

 

Con sâu đo em đu lên người anh

thì thầm gặm hết những xanh non

 

Con ong vẫn nhởn nhơ bay

thác đổ đều đều, mưa rơi rất chậm

nhưng tất cả ngọn cây đều bạt về một phía.

 

 

 

 

Vô tình trong nắng sớm

 

 

Nước đọng dưới chân núi

Một viên cuội nằm trên phiến đá cao

Không chớp mắt trong tinh khôi, yên tĩnh

 

Đêm qua ở đây có mưa

Ai đã ngồi kia trước hay sau mưa nặng hạt

 

Tự nhiên nhớ em, rất nhớ

Anh không dám nhìn đi nơi khác

Để trời xanh ngấm xuống gót chân

 

Từng mưa to, mưa rất to

Tắm táp cho viên cuội nhỏ

Chỉ riêng hình ảnh này

Đã làm anh yêu đời mê dại

 

Hình như nắng sớm đang phủ lên đỉnh núi

Làm trong suốt lòng đất, lòng cây.

 

 

 

 

Lên chùa

 

 

Ngược dốc tới gần cổng chùa

Khuôn mặt em chợt hiện Quán Thế Âm Bồ Tát

 

Mang chiếc túi màu nâu

Cổ cao, váy chùng, nhẫn trắng...

Vòng vòng hào quang

 

Trong vòm trời sáng láng

Tâm tưởng con xin sấp mình

 

Thân con rỗng không

Hạc khô chiếc mõ chân tâm trì chú...

... "Om Mani Padme Hum"(*)

 

Bụi gai bên đường nổi gió

Tiếng con mãnh thú chạy vào rừng sâu

Lắc rắc những cành cây gãy.

 

____________

(*) Câu thần chú bằng tiếng Phạn của Phật giáo Tây Tạng cầu Quán Thế Âm Bồ tát. 

M.V.P

 

(Rút từ tập thơ “Đôi cánh”)

 

 

 


(*) Глазунова Светлана Евгеньевна - преподаватель вьетнамского языка. В 1995 г. окончила Факультет Международных отношений (восточное отделение) МГИМО (Университет) МИД РФ. В октябре 1992 - июне 1993 г. и в октябре 1995 - мае 1996 г. проходила стажировку в Ханойском Государственном Университете на факультете вьетнамского языка. С 1996 г. работает преподавателем вьетнамского языка на кафедре китайского, вьетнамского, тайского, лаосского, кхмерского и бирманского языков МГИМО (У) МИД РФ. В настоящее время является старшим преподавателем кафедры. Активно работает в области устного и письменного перевода. Выступала в качестве редактора "Учебного пособия по реферированию вьетнамской прессы" (для старших курсов) Л.Л. Сандаковой (Изд. "МГИМО - Университет" 2004). Привлекалась к работе над первым томом Большого вьетнамско-русского словаря (Изд. "Восточная литература" РАН 2006). 





Svetlana E. Glazunova
 - Giảng viên tiếng Việt. Năm 1995 chị tốt nghiệp Khoa Quan hệ Quốc tế (Ban Phương Đông học) thuộc trường Đại Học Quan hệ quốc tế quốc gia Maxcơva (MGIMO - Bộ Ngoại giao Nga). Từ 10/1992 - 6/1993 và 10/1995 - 5/1996 chị thực tập tại Khoa tiếng Việt trường Đại học quốc gia Hà Nội. Từ năm 1996 Svetlana E. Glazunova là giảng viên tiếng Việt tại Ban tiếng Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Khmer và Miến Điện thuộc Bộ Ngoại giao Nga. Hiện chị là giảng viên cao cấp của các Ban trên. Ngoài ra, chị hoạt động tích cực trong lĩnh vực dịch thuật. Tham gia biên tập “Giáo trình nâng cao kỹ năng báo chí Việt Nam” của tác giả L.L. Sandakova (Nxb. Đại học Quan hệ quốc tế quốc gia Maxcơva, 2004). Tham gia biên soạn cuốn I đại Từ điển Việt - Nga (Nxb. “Văn học phương Đông”, Viện Hàn lâm khoa học Nga, 2006).

 

 

 


(**) Елизавета Захаровна Коздоба – поэт, прозаик, переводчик, публицист. Родилась в городе Долинское Кировоградской области. Отец Захар Иванович Коздоба был агрономом, мать Домникия Тимофеевна Коздоба – актрисой. После окончания средней школы в городе Кирово - граде (УССР) Е.З. Коздоба изучала языки на отделении структурной и прикладной лингвистики в Киевском государственном университете имени Т.Г. Шевченко. Обучаясь в аспирантуре в Московском государственном университете имени М.В. Ломоносова, была корре - спондентом и ответственным секретарём “Информа - ционного бюллетеня” Союза писателей СССР. Много путешествовала, занимаясь творческой журналистской и  итературной деятельностью. Её статьи и поэтические произведения печатались в отечественных и зарубежных СМИ. Выпустила 6 поэтических сборников. Е.З. Коздоба – лауреат литературных премий имени К. Симонова и В. Пикуля. Её стихотворения переведены на украинский, турецкий, польский, болгарский, испан - ский, английский и другие языки. В последнее время ав - тор сотрудничает с международным журналом “Золотая площадь”, совместно с испанскими и русскими поэтами выпускает испанско-российскую двуязычную антологию “Валенсия – Москва”, является вице-президентом реги - ональной общественной организации “Женский клуб “МОСКВИЧКИ” и носит почётное звание “Заслуженный работник культуры России”. 




Elizaveta Zakharovna Kozdoba - nhà thơ, nhà văn, dịch giả, nhà chính luận. Bà sinh tại thành phố Dalinskove tỉnh Kizovograd. Cha bà là Zakhar Ivanovich Kozdoba, kỹ sư nông học, mẹ là nữ nghệ sĩ Domnikya Timofrevna Kozdoba. Sau khi tốt nghiệp trường phổ thông ở thành phố Kirovograd (Cộng hòa U-crai-na, Liên Xô cũ). E.Z. Kozdoba nghiên cứu các ngôn ngữ ở hệ ngôn ngữ học cấu trúc và ứng dụng tại trường Đại học Tổng hợp quốc gia Kiev mang tên T.G. Shevchenko. Học nghiên cứu sinh tại Đại học quốc gia Matxcơva mang tên M.V. Lomonosov. Phóng viên và thư ký đại diện tờ báo “ Bản tin” của Hội Nhà văn Liên Xô (cũ). Đã tham quan nhiều nơi trên thế giới, tham gia các hoạt động sáng tạo báo chí và văn học. Bài viết và tác phẩm của E.Z. Kozdoba từng đăng ở báo chí trong nước và nước ngoài. Đã xuất bản 6 tập thơ. Từng đoạt các giải thưởng mang tên K. Simonov và V. Pikul. Thơ E.Z. Kozdoba đã được dịch sang tiếng U-crai-na, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tây Ban Nha, Anh và các ngôn ngữ khác. Gần đây, tác giả đã hợp tác với tạp chí quốc tế “Quảng trường vàng” và cùng nhóm nhà thơ Tây Ban Nha và Nga xuất bản truyện thơ song ngữ Tây Ban Nha - Nga “Valenxia - Matxcova”.  là phó chủ tịch tổ chức xã hội - Câu lạc bộ phụ nữ mang tên “Phụ nữ Matxcơva”. Được vinh danh: “Nhà hoạt động văn hóa công huân Nga”.

 

 

 

 
Gấp mép bìa 1





Gấp mép bìa 4





 

 

 



BÀI KHÁC
1 2 3 4 




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị