Khi nhà thơ viết phê bình (giới thiệu sách) - Anh Thơ

Khi nhà thơ viết phê bình

 

 

 

 

Tác giả Anh Thơ. Ảnh: Vũ Dũng

 

 

 

Anh Thơ

 

 

Mai Văn Phấn là một trong những nhà thơ theo khuynh hướng cách tân. Với 25 đầu sách dịch ra 24 thứ tiếng, trong đó nhiều đầu sách song ngữ được ấn hành bởi các NXB trong và ngoài nước, tác phẩm của anh góp phần tạo ảnh hưởng nhất định trong đời sống thi ca đương đại.

         

Mới đây, anh cho ra mắt bạn đọc  tập Tiểu luận - Phê bình “Không  gian khác”. Sách do NXB Hội Nhà Văn ấn hành thể hiện quan niệm thẩm mỹ của tác giả về không gian mới trong quá trình sáng tạo thơ.

 

1 - Như tôi biết, Mai Văn Phấn không có ý định viết phê bình. Từ những năm 90 của thế kỷ trước, anh chỉ tập trung sự đam mê vào lộ trình đổi mới thi pháp theo khuynh hướng cách tân mà anh tự hoạch định cho mình. Nhưng cũng từ những năm ấy, thơ cách tân đã “thành một vấn đề” đến nỗi giới văn học phải bàn về khuynh hướng này. Có cả nhiều hội thảo chuyên ngành về đổi mới thi pháp mà bạn bè quốc tế tham dự. Là người sáng tác, tiếp nhận nhiều luồng ý kiến khác nhau cũng như cả những tranh cãi đa chiều về thơ ca truyền thống và cách tân, sự lệch pha giữa nhà thơ và bạn đọc, Mai Văn Phấn dần hình thành ý thức phản tỉnh và luôn đặt câu hỏi cho mình, rằng thơ ca Việt Nam đang ở vị trí nào trong xu hướng hội nhập toàn cầu? Câu hỏi này luôn thôi thúc anh cho đến tập thơ thứ 6 “Vách nước” (năm 2003), anh quyết định viết tiểu luận, phê bình không ngoài mục đích bày tỏ chính kiến về một khuynh hướng thơ, tìm ra sự khác biệt căn bản của thế hệ Đổi mới với thế hệ trước.

      

2 -  “Không gian khác” chỉ với 24 tác giả xuất hiện từ năm 1975 đến nay, nhưng đủ hình dung sự kế tiếp của các thế hệ cách tân. Đó là có nhà thơ gạch nối, có nhà thơ khai mở, người cách tân khởi đầu và có cả nhà thơ ví như “mạch nước ngầm” vẫn nổi sóng cách tân. Bên cạnh đó, còn có đóng  góp của một số dịch giả mà Mai Văn Phấn bày tỏ lòng cảm kích qua một sô tập thơ song ngữ.

       

Đọc 25 bài viết về các tác giả trên, tôi nhận thấy Mai Văn Phấn sử dụng “vật liệu phê bình” căn bản vẫn  là tác phẩm nhà thơ. Tuy nhiên, dưới góc độ “người cùng thời cách tân”, anh dành cho mỗi tác phẩm sự đọc giàu xúc cảm và đồng cảm mãnh liệt. Những thao tác khá tỉ mỉ, công phu còn là khi anh đi vào phân tích kỹ càng các thủ pháp cách tân của mỗi nhà thơ.

       

Có tác giả anh chỉ giới thiệu một tập thơ như Trần Tiến Dũng, Giáng Vân, Đỗ Doãn Phương, Lê Ngân  Hằng, Lê Vĩnh Tài, Trần Lê Sơn Ý, Khánh Phương, Nhã Thuyên, Lê Hoài Anh, Nguyễn Thị Ngọc Tư, Đỗ Trọng Khơi… Thơ nước ngoài có tập “Những hy vọng trong suốt” của nhà thơ Gjeke Marinaj (Hoa Kỳ), “Mặt trời tinh khiết” của Menti Cengiz và “Nghi lễ hái hoa hồng” của Muesser Yeniay (Thổ Nhĩ Kỳ), “Mơ được sống vùng đất khác” của Rati Sasena (Ấn Độ). Nhưng có tác giả anh đọc từ 3- 5 tập thơ như trường hợp nhà thơ  Đinh Thị Như Thúy, Nguyễn Đình Di… để sau đó đưa ra những nét “dị biệt” của mỗi người trong cách cảm nhận và thể hiện thực đời sống qua thơ. Nét “ dị biệt” ấy làm nên đặc điểm riêng được anh gọi thành tên, như “Thơ Khánh Phương và những trái tưởng tượng”, “Cơn mưa ánh sáng trong thơ Lê Ngân Hằng”, “Thơ Rati Saxenna hàn gắn những lỗ thủng thế giới”, Nguyễn Đình Di với bí quyết hấp dẫn từ những giấc mơ… Với một số nhà thơ gạch nối và khai mở như Thi Hoàng, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Inrasara…, Mai Văn Phấn khảo sát và phân tích công phu sự chuyển đổi thi pháp trên cơ sở theo sát lộ trình cách tân với nhiều cột mốc, dấu ấn của họ. Anh cũng  so sánh sự khác nhau trong cách thiết lập kết cấu không gian trong mạch thơ, trong từng bài thơ của chính mỗi tác giả; hoặc phân tích sự chuyển đổi thi pháp ở khía cạnh sử dụng ngôn ngữ của mỗi nhà thơ. Chẳng hạn, với nhà thơ Thi Hoàng, Mai Văn Phấn viết: “Thi Hoàng là “nhà thơ gạch nối” mà ngay từ năm 1992 ông đã có “Chú chím sâu bé nhỏ” – bài thơ tiêu biểu cho cách dùng chữ của nhà thơ: “Chú chim sâu nhỏ giọt xuống lòng ta/ Những giọt đoan trang cho lòng ta nhuần nhị”. (…) Hành trình cách tân của Thi Hoàng là đã tạo ra những xung động, sản sinh những nghĩa mới của chữ, tạo chữ mới lạ, sự biến ảo đa nghĩa trong từng câu thơ trên nền tảng của đại tự sự.”. Với Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn phân tích bài “Sông Đáy”  (trong tập “Sự mất ngủ của lửa” ) để chứng minh bước tiến dài của thi pháp Nguyễn Quang Thiều. Câu thơ được anh trích dẫn “Cơn mơ vang lên tiếng cá quẫy tuột như câu như một tiếng nấc/ Âm thầm vỡ trong tôi, âm thàm vỡ cội nguồn” và bình luận: “Ở đây, “cơn mơ”, “tiếng cá quãy tuột câu”, “tiếng nắc”, “tôi”, “cuối nguồn” là những hình ảnh cách biệt, xa nhau nhưng cùng trôi theo một từ trường cảm xúc mạnh mẽ và bật lên sức liên tưởng cũng rất mạnh mẽ: đó là liên tưởng đa tuyến”.

       

3- Bằng cách phân tích tác phẩm, soi chiếu thơ cách tân  sau năm 1975 trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam và các khuynh hướng thơ hiện đại thế giới, Mai Văn Phấn cho thấy các nhà thơ cách tân đã tự tinh lọc chính mình sáng tạo trong quá trình tìm tòi thủ pháp thiết lập không gian và kết nối các điểm nhìn trong thơ. Có người bằng cách sử dụng ngôn ngữ, có người dùng hình khối, hình ảnh, nhịp điệu câu thơ, thậm chí đặt tên bài thơ cũng được xem là thủ pháp quan trọng. Hiệu ứng của sự cách tân này là ở chỗ tạo ra “khối lập phương” thơ trong hình học không gian đa chiều với biên độ rộng lớn. Đó cũng là sự khác biệt mấu chốt thế hệ Đổi mới với thế hệ trước đây, góp phần khẳng định thơ ca Việt Nam từ nền tảng truyền thống lên hiện đại đã không còn xa lạ với thế giới và ngược lại. Theo đó, ở “không gian khác” này”, người đọc cũng phải thay đổi cách cảm thụ thơ. Thay vì chỉ đọc, còn có cả “sự nhìn” đối với thơ ở nhìều khoảng cách, nhiều trạng thái khác hẳn so với thơ hình học phẳng đã quá quen. Đây cũng là thành công của cuốn sách.        

     

4 - Hỏi về phản ứng của các nhà thơ và chung quanh “bếp núc phê bình”,  nhà thơ Mai Văn Phấn bật mí: “Trong số  24 tác giả tôi giới thiệu, có người tôi quen biết, có người ở mức thân, nhưng cũng có người tôi chưa biết mặt. Song khi phê bình, tôi đều viết một cách… bí mật; nghĩa là chẳng ai biết tôi sẽ viết về họ thế nào? Chỉ đến khi xuất hiện trên” giấy trắng mực đen”, mọi người mới bất ngờ. Có người nói vui rằng tôi mê mải với người này mà quên mất người kia. Có người nói tôi “ bình” như…  nhập đồng, “phê” hơi ít nhưng trúng. Nhưng được nhất là chưa có ai gọi tôi là nhà phê bình cả. Tôi thấy rất đúng, vì nhà phê bình thì phải trau dồi nhiều lắm. Tôi tuy phải đọc nhiều, đọc kỹ, thậm chí phải “đào bới” tư liệu thì cũng chỉ là trải nghiệm, phục dựng và lý giải không gian thơ của các nhà thơ Đổi mới theo cách nhìn và quan niệm thẩm mỹ của riêng tôi. Ví von thì tôi tự đánh chìa khóa để mở cửa ngôi nhà tìm ra ánh sáng riêng của mỗi nhà thơ mà tôi biết”.     

        

Tuy nhiên, qua 25 bài phê bình và 4 tiểu luận cùng chủ đề thơ cách tân trong cuốn sách này, Mai Văn Phấn còn muốn nói một điều: Không phải cứ cách tân là hay, là nhất. Có những câu thơ viết theo lối cách tân mà bàng bạc, nhạt nhòa thì không thể xếp ngang hàng với câu thơ viết theo lối hình học phẳng có thần thái. Vấn đề ở chỗ một thế giới thơ ca đã khai mở ắt cần phải đi tiếp và sứ mệnh của các nhà thơ là không ngừng sáng tạo để tạo ra giá trị nghệ thuật mới. Thơ cách tân đã khi đã là một khuynh hướng thì cũng cần có sự kế tiếp (ví như con sóng nhỏ nối vào con sóng lớn để tạo ra biển sóng) và luôn có những ý kiến phản biện. Phản biện để thơ cách tân chuyển động tích cực hơn, mạnh mẽ hơn trong xu hướng hội nhập toàn cầu. Âu cũng là thái dộ đúng đắn của Mai Văn Phấn khi viết phê bình.

 

Hải Phòng, tháng 6/2017

A.T

 

(Bản tác giả gửi maivanphan.com)

 

 

 

 

 


















 


 

 

 

 

 

 

 

 




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị