Biểu đạt âm thanh trong thơ Hồ Xuân Hương - Mai Ngọc Phát

Biểu đạt âm thanh trong thơ Hồ Xuân Hương

 

 

 

 

Tranh của HS Nguyễn Tuấn Sơn

 

 

 

Mai Ngọc Phát

 

 

Cấm kỵ, dân dã, sống động, khiêu khích, gợi tình, bi hài và cả thơ mộng; đó chỉ là đôi ba tính ngữ để nói về bút pháp đa dạng, tài hoa của Hồ Xuân Hương, mà độc đáo nhất là mảng thơ chữ Nôm. Người viết bài này, vốn là kẻ say mê sưu tập những ấn phẩm về Hồ Xuân Hương đã xuất bản trong và ngoài nước trong những thế kỷ qua, thấy rằng hiện đã có hàng trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ về thơ cũng như về cuộc đời bạc phận, truân chuyên của bà. Đọc lại thơ Nôm Hồ Xuân Hương, xin nói thêm đôi lời về cách biểu đạt âm thanh trong thơ chữ Nôm của bà. Nó thể hiện một bút pháp tài hoa, độc đáo có một không hai của một nhà thơ Việt Nam được yêu mến nhất từ trước đến nay.

 

Âm thanh và vần điệu vốn là một trong những thủ pháp cơ bản để các nhà thơ tạo ra thần thái cũng như sự hấp dẫn, quyến rũ cho thơ. Nó chuyên chở đến người đọc vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh thơ thông qua những xúc cảm âm thanh, nhịp điệu. Tuy vậy, mỗi nhà thơ đều có cách biểu đạt âm thanh riêng, thể hiện phong cách và bản sắc sáng tạo. Khái niệm âm thanh trong bài viết nhỏ này không đơn thuần đề cập đến những từ tượng thanh trong thơ Hồ Xuân Hương, mà khảo sát một phần hệ thống ngôn ngữ, những hình tượng thơ phát ra âm thanh, tiếng động trong tâm thức, thính giác người đọc.

 

Trước khi đề cập đến hệ thống âm thanh trong thơ Hồ Xuân Hương, tôi xin nêu ý kiến ngắn về hai nhà thơ đương thời Việt Nam tiêu biểu trong thế kỷ 20, Xuân Diệu và Lê Đạt, nhằm so sánh và làm nổi bật hơn bút pháp của nữ sĩ họ Hồ.

Trong bài thơ “Nguyệt cầm”, nhà thơ Xuân Diệu viết:

 

“Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.”

 

Ở đây, Xuân Diệu đã cho ánh trăng hòa nhập, hóa thân vào từng dây đàn, và sau đó, ta nghe thấy tiếng lòng ông ngân lên dìu dặt trong mỗi con chữ, mỗi thán từ. Nhà thơ đã cho những giọt thanh âm ở cuối khổ thơ rơi xuống chầm chậm, tan ra và lan xa. Điều đáng chú ý là, những giọt âm thanh ấy giống như những giọt nước mắt cứ ngân lên thành tiếng trong lòng người đọc, và còn tiếp tục vang vọng dù mọi tưởng tượng về ánh trăng đã chấm dứt.

 

Nhà thơ Lê Đạt, một cây bút cách tân hình thức ngôn ngữ thơ cho hay, thơ không chấp nhận chữ như những kí hiệu xơ cứng trong đời sống, mà qua bàn tay của nhà thơ, ông gọi là các “phu chữ”, đã hoán chuyển những âm thanh, hình ảnh để chúng mang một sắc diện khác trên trang viết. Ông viết: “Nhà thơ làm chữ không phải ở nghĩa ‘tiêu dùng’, nghĩa tự vị của nó mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu thơ, bài thơ”[1]. Từ quan niệm ấy, Lê Đạt đã biểu đạt âm thanh trong một số câu thơ của ông như sau:

 

“Vỏ ốc u u gọi mê miền cát ngủ”

(Tương tư)

 

“Ơi em rất ô Ơi em rất hồ

Trắng vỗ ồ hô trúc bạch”

(Vào hè)

 

Cả hai trường hợp, Xuân Diệu và Lê Đạt đều cho thấy, nhà thơ luôn đứng ở ngôi thứ ba để lắng nghe, quan sát và ghi lại những tiếng động trong tâm hồn, trong đời sống thường nhật mà tác giả được trải nghiệm. Âm thanh trong đoạn thơ của Xuân Diệu được ông lắng lọc từ trong tâm cốt, nơi hòa quyện giữa tâm trạng và hiện thực khách quan, trong mẫn cảm tinh tế của cảm xúc. Còn âm thanh trong thơ Lê Đạt là kết quả của quá trình hoán chuyển, va đập của chữ, tìm trong “bóng chữ”, ánh xạ của chữ ra nghĩa mới của từ.

 

Trở lại với thơ Hồ Xuân Hương ta thấy, cách biểu đạt âm thanh của bà khác hẳn với Xuân Diệu và Lê Đạt như tôi vừa đề cập. Mặc dù thơ của nữ sĩ họ Hồ xuất hiện trước thời đại chúng ta gần hai thế kỷ, nhưng cho đến nay sức lôi cuốn và sự lan tỏa của nó không thua kém bất kỳ nhà thơ đương thời nào. Điểm nổi bật cần nhắc tới trước tiên là Hồ Xuân Hương có cách biểu đạt âm thanh trực tiếp chứ không thông qua bất kỳ “phin lọc” ngôn ngữ, hay mượn lối nói ví von, uyển ngữ, nhã ngữ nào. Âm thanh của đời sống sinh động muôn vẻ thường được vang vọng trực tiếp vào từng câu thơ của bà. Tôi tạm gọi đây là những âm thanh “nguyên thủy” được nhà thơ chắt lọc từ đời sống, từ thiên nhiên, vũ trụ. Qua khảo sát cho thấy, đa số các nhà thơ tránh lối diễn tả âm thanh trực tiếp mà thường thăng hoa, biến tấu qua bàn tay của những “phù thủy ngôn ngữ”. Tôi cũng ít thấy các nhà thơ kim cổ đưa trực tiếp những tiếng động của đời sống vào thơ, như tiếng chó sủa “gâu gâu”, tiếng mèo kêu “meo meo”, con dê kêu “be be”, tiếng chuông ngân “bính boong”... Những âm thanh này thường được các nhà thơ cho khúc xạ, ẩn nấp trong tâm trạng và xúc cảm, hoặc đi kèm với những hình ảnh, thán từ, thán ngữ…

 

Với thơ Hồ Xuân Hương, thi sĩ thường dẫn bạn đọc đi lối tắt. Ta hãy nghe âm thanh của tiếng mõ và tiếng chuông bất ngờ vang lên trong bài thơ “Tự tình” của bà:

 

“Mõ thảm không khua mà cũng cốc

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”

 

Tiếng “cốc” và “om” quả thực rất tài tình và bất ngờ. Nhất là tiếng “cốc” vang lên đột ngột, lạ lẫm, đầy thách thức đã làm người đọc giật mình, phá vỡ quy luật của cảm xúc. Điều kỳ lạ ở đây là tiếng “cốc” lại vọng ra từ “mõ thảm”, mà trước đó không ai động vào chiếc mõ. Lối viết ma mị này rất ít thấy trong thơ trung đại ở nước ta.

 

Trong ca dao Việt Nam cũng nhắc nhiều đến tiếng mõ, nhưng nó thường văng vẳng trong làng quê nghèo, xa vắng, buồn tênh:

 

“Sư đi chùa mốc sân rêu

Mõ khuya ai gõ, chuông chiều ai khua?”

 

“Mõ đâu đem đánh giữa làng

Ông thôn ve gái việc làng không lo.”

 

Có đôi câu ca dao nhắc tới tiếng “cốc”, tiếng mõ nhưng thường có tiết tấu chậm, không gây bất ngờ:

 

“Cốc cốc đánh mõ đi tuần

Cha mi nói dối đau chân ở nhà.”

 

Hoặc, hành động “gõ mõ” trong câu ca dao sau chỉ thể hiện động tác đơn thuần, làm nền, khai mở cho câu thơ tinh nghịch kế tiếp sau đó:

 

“Một tay gõ mõ, gõ chuông

Một tay bóp vú cô nàng nghe kinh.”[2]

 

Vẫn cách biểu đạt âm thanh “trực tiếp” như tôi vừa trình bày, Hồ Xuân Hương đã vận dụng tối đa cách nói dân gian, dân dã, để tạo nên những câu thơ sinh động mà mang hàm nghĩa mới cho những từ tượng thanh:

 

“Rúc rích thây cha con chuột nhắt

Vo ve mặc mẹ cái ong bầu”

(Vô âm nữ)

 

“Luồng gió thông reo vỗ phập phòm

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm”

(Hang Cắc Cớ)

 

“Thương chồng nên phải khóc tì ti”

(Khóc chồng làm thuốc)

 

“Gió vật sườn non kêu lắc rắc

Sóng dồn mặt nước vỗ long bong”

(Núi Kẽm Trống)

 

Hệ thống các từ tượng thanh trong thơ Hồ Xuân Hương như “rúc rích”, “phập phòm”, “lõm bõm”, “tì ti”, “lắc rắc”, “long bong”, “xì xòm”… cho thấy chúng được phát ra trong tâm thế một kẻ du ca, luôn muốn phá vỡ cái nghiêm trang, giả tạo chốn cung đình, khuê các, mà hồn nhiên ăn nằm, cười khóc với nhân gian lấm láp, nhọc nhằn. Qua cách sử dụng từ ngữ nêu trên, nhà thơ cũng cho ta thấy cái tâm trạng, tâm thế thật trẻ trung, láu lỉnh và hóm hỉnh.

 

Có một số câu thơ của Hồ Xuân Hương không nằm trong hệ thống các từ tượng thanh, nhưng khi đọc những hình ảnh táo bạo, lạ lùng ấy ta lại thấy phát ra tiếng động:

 

“Người quen cửa Phật chen chân xọc”

(Chùa Hương Tích)

 

“Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,

Trống mang dùi cắp đã phanh phanh”

(Duyên kỳ ngộ)

 

Động từ “xọc” và tính từ “phanh phanh” trong hai câu thơ trên cũng hiếm thấy trong ngôn ngữ văn chương “chính thống” hồi đó. Nó táo tợn đến mức người đọc cảm nhận nhà thơ đã bóc lớp vỏ từ ngữ đến trần trụi, làm cho nghĩa của động từ, tính từ phát ra âm thanh rất kỳ lạ và sống động.

 

Nghệ thuật sử dụng âm thanh trong thơ ca vốn mang đặc trưng vùng miền, rộng hơn là trong phạm vi cộng đồng, dân tộc. Qua khảo sát cho thấy, phần lớn những từ tượng thanh trong tiếng Việt đều có hình thức láy, ví dụ: oa oa, oe oe, ti tỉ, oai oái, chí chóe, ú ớ, ha hả, hô hố, khì khì, hu hu, ằng ặc, gừ gừ, ăng ẳng, chít chít, chiếp chiếp, cạc cạc… Nhưng trong thơ Hồ Xuân Hương, ngoài những từ láy, ta thấy tác giả còn dùng từ đơn âm tượng thanh rất độc đáo, như “cốc”, “om”, “phòm”…

 

Trong bất kỳ ngôn ngữ nào, các từ tượng thanh thường được tạo ra trên cơ sở âm và nghĩa. Bản tính của từ tượng thanh cho thấy cái vỏ vật chất âm thanh của từ thường gợi ra nội dung ý nghĩa. Tuy nhiên, vỏ vật chất âm thanh của ngôn ngữ bắt nguồn từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, từ lịch sử ngôn ngữ cộng đồng, vùng đất, còn âm thanh tự nhiên của thế giới bên ngoài lại thuộc về hiện thực khách quan. Một số trường hợp cho thấy, vỏ vật chất âm thanh và âm thanh tự nhiên không đồng nhất. Trong trường hợp thơ Hồ Xuân Hương, thuộc tính nói trên bắt nguồn từ ngôn ngữ dân gian, phong tục, văn hóa Bắc Bộ. Cái vỏ vật chất âm thanh của thơ bà luôn ăn khớp, hòa quyện với nội dung ý nghĩa của văn bản và càng làm gia tăng biểu nghĩa trong tiếng Việt, vốn là một ngôn ngữ đa âm sắc và giàu khả năng biểu cảm. Cách biểu đạt âm thanh trong thơ chữ Nôm của Hồ Xuân Hương thêm một lần nữa cho chúng ta thấy tài năng, bản lĩnh của “Bà Chúa thơ Nôm”[3].

 

M.N.P

 

 

 

____________

[1] Lê Đạt. Bóng chữ. Nxb Hội Nhà văn, 1994.

[2] Mã Giang Lân. Tục ngữ và ca dao Việt Nam. Nxb Giáo dục, 1999 (tái bản lần thứ 5).

[3] Xuân Diệu. Hồ Xuân Hương, Bà Chúa Thơ Nôm. Nxb Phổ thông, 1961.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 


























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị