Từ thơ chữ Hán đến thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương - Mai Ngọc Phát

Từ thơ chữ Hán đến thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương

 

 

 

Tranh của HS Nguyễn Tuấn Sơn

 

 

 

Mai Ngọc Phát

 

 

 

Hồ Xuân Hương là nhà thơ tiêu biểu, một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ trung đại và cả sau này. Bà có hai hình mẫu thơ, mẫu thứ nhất là thơ chữ Nôm được lan truyền rộng khắp trong nhân gian, và mẫu thứ hai là thơ chữ Hán mang phong cách riêng biệt. Thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương có in trong một số cuốn sách[1], nhưng văn bản xác thực, đáng quý nhất là tập thơ “Lưu hương ký”, được ông Trần Thanh Mại công bố năm 1964.

 

Trong suốt nhiều thế kỷ ở Việt Nam, thơ văn chữ Hán luôn chiếm vị trí “chính thống” độc tôn trên văn đàn, còn thơ văn chữ Nôm bị coi như “ngoài luồng” mặc dù nó luôn được nhân dân nâng niu, gìn giữ. Thơ chữ Hán vốn là thơ của tầng lớp nho sinh, của vua quan và kẻ sĩ dùng để vịnh cảnh, xướng họa, bày tỏ nỗi niềm riêng, “tức cảnh sinh tình”. Hồ Xuân Hương cũng được các học giả đương thời đánh giá rất cao tài thơ chữ Hán. Nương theo dấu tích thời gian cho thấy, Hồ Xuân Hương đã sáng tác thơ chữ Nôm đan xen với thơ chữ Hán. Nhưng người viết bài này xin coi từ thơ chữ Hán đến thơ chữ Nôm của bà là một hành trình. Đó là hành trình của một nhà thơ từ nơi xa hoa, “mũ cao áo dài”, nơi điện phủ uy nghiêm đến với đời sống lầm than, dân gian lấm bụi, mang khát vọng tự do, đậm chất phong tình và phản kháng.

 

Ở nước ta khi chưa xuất hiện phong trào Thơ Mới, ngoài các thể thơ như lục bát, song thất lục bát, đồng dao…, các nhà thơ từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan, Bùi Kỷ, Trần Tế Xương, Tản Đà, Nguyễn Khuyến… đều chịu ảnh hưởng của thơ Đường, thơ Tống Trung Hoa. Thơ bằng chữ Hán gọi là thơ Hán Đường luật, và thơ bằng chữ Nôm gọi là thơ Nôm Đường luật.

 

Tập thơ “Lưu hương ký” của Hồ Xuân Hương cho thấy, thơ chữ Hán của bà nằm trong hệ hình thẩm mĩ và hệ thống quy tắc phức tạp của thơ Hán Đường luật. Trong thơ Hán Đường luật, thể “thất ngôn bát cú” được coi là dạng chuẩn nhất, biến thể có các dạng “thất ngôn tứ tuyệt”, “ngũ ngôn tứ tuyệt”, “ngũ ngôn bát cú” và các dạng ít phổ biến khác. Hồ Xuân Hương phần lớn làm thơ chữ Hán theo thể “thất ngôn bát cú”.

 

Xin dẫn nguyên văn bài thơ chữ Hán “Nhãn phóng thanh” của bà đã được phiên âm tiếng Việt cùng bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn, có tên “Mắt tỏa màu xanh”. Bài thơ này nằm trong loạt bài vịnh cảnh ca ngợi vẻ đẹp non sông đất nước.

 

Nhãn phóng thanh

 

Vi mang loa đại tháp thương minh

Đáo thử tu giao nhãn phóng thanh

Bạch thủy ma thành thiên nhẫn kiếm

Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh

Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp

Thần lực hề dung tạc Ngũ Đinh

Phảng phất vân đồi đầu ám điểm

Cao tăng ưng hữu tọa đàm kinh.

 

Bản dịch nghĩa:

 

Mầu lam nhạt mờ mờ nối trời xa với bể xa,

Đến đây, tưởng như trong mắt tỏa sắc xanh ra.

Nước bạc mài đá thành nghìn mũi gươm nhọn,

Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa xuống.

Vách đá hình kì quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại khoa,

Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như vậy.

Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã sẩm tối,

Chắc đã có vị cao tăng ngồi yên lặng tụng kinh.

 

 

Bản dịch thơ:

 

Mắt tỏa màu xanh

 

Bể xanh lấp loáng tận trời xa,

Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra.

Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm,

Đầm im rơi xuống một sao sa.

Quái hình chưa dễ đề khoa bảng,

Thần lực đâu đà tạc tượng ma.

Phảng phất mây rà đầu sẩm tối,

Cao tăng đang tụng chốn chiền già.

 

Tôi xin phép không đánh giá bài thơ dựa theo quy ước của thơ Đường luật, như “nhất tam ngũ bất luật” (chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật), “nhị tứ lục phân minh” (câu thứ hai, bốn và thứ sáu phải đối ý), cũng như không đối chiếu từng câu trong bài thơ của Hồ Xuân Hương theo luật, niêm, vần, đối và bố cục của Đường Thi.

 

Nói chung, nếu thiên nhiên cảnh vật trong thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương mang tính tượng trưng, nhân hóa, phúng dụ, thì trong thơ chữ Hán của bà, cảnh vật do con người kiến tạo cùng các danh thắng thiên nhiên thường hiện ra chân thực, trữ tình. Những hình ảnh thơ hiện ra sống động trong tâm trí bạn đọc chính là quang cảnh thiên nhiên có thực trong đời sống, và tính trữ tình của bài thơ xuất hiện chủ quan tùy thuộc vào tâm trạng, góc độ của người ”tức cảnh sinh thơ”. Bài thơ “Mắt tỏa màu xanh” (Nhãn phóng thanh) cho thấy tư thế khiêm nhường và có phần khép nép của người viết. Câu thơ “Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm/ Đầm im rơi xuống một sao sa” thể hiện bóng dáng nhỏ bé của nhà thơ đã hòa vào thiên nhiên rộng lớn. Tác giả xuất hiện tựa một cánh hoa mỏng manh, vừa bung nở đã vội vàng rụng xuống, mất hút trong đám cỏ. Hai câu kết của bài thơ (câu thứ bảy và tám) cho thấy tác giả vẫn nương theo tâm trạng của người ngâm vịnh đã xuất hiện từ câu thơ Phá đề, mà không tạo cho bạn đọc sự bất ngờ, không gây nhiều thảng thốt.

 

“Phảng phất mây rà đầu sẩm tối,

Cao tăng đang tụng chốn chiền già.”

 

Tâm trạng này cho thấy, Hồ Xuân Hương đang cố giấu đi một nỗi lo toan, buồn bã thường phảng phất trong các bài thơ chữ Hán của mình. Đó là tâm trạng chung của tầng lớp nho sĩ cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, lúc chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng.

 

Có thể nói, thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương chưa thoát khỏi hệ quy chiếu thẩm mĩ ở thời đại của bà. Tuy vậy, qua thơ chữ Hán, bà vẫn được đánh giá là một trong những nhà thơ tài hoa, có phong cách riêng. Nếu so sánh bài thơ “Mắt tỏa màu xanh” với bài “Tức cảnh chiều thu” của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy hai nhà thơ có tâm trạng khá tương đồng, vốn cùng được biểu đạt bằng lối thơ tả cảnh, ngâm vịnh, bàng bạc một nỗi niềm u hoài cố quận.

 

Tức cảnh chiều thu

 

Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,

Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.

Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,

Trắng xoá trường giang phẳng lặng tờ.

Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,

Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ.

Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,

Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.

 

Như người viết đã đặt vấn đề từ đầu, nếu coi những bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương là nền tảng, nơi xuất phát, thì thơ chữ Nôm của bà chính là điểm đến, mục đích. Thơ chữ Nôm đã đưa Hồ Xuân Hương trở thành một trong thi sĩ xuất sắc nhất của văn học trung đại và được mến mộ đến tận bây giờ. Xin dẫn bài thơ “Hang Cắc Cớ”, cũng là một góc quan sát thiên nhiên, giãi bày tâm trạng, nhưng bạn đọc không còn nhận ra khuôn khổ gò bó của thơ Đường luật. Vẫn thể thơ “thất ngôn bát cú”, nhưng tác giả đã dùng xúc cảm, âm điệu, và đặc biệt là từ ngữ dân gian linh hoạt và sáng tạo để thổi hồn Việt vào bài thơ.

 

Hang cắc cớ

 

Trời đất sinh ra đá một chòm,

Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom.

Kẽ hầm rêu mọc trơ toen hoẻn,

Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,

Con đường vô ngạn tối om om.

Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,

Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.

(Theo bản khắc 1922)

 

Theo bố cục của thể thơ “thất ngôn bát cú”, qua phần Mạo với hai câu thơ Phá đề (câu 1) và Thừa đề (câu 2) Hồ Xuân Hương đã thay đổi hẳn cái tư thế nghiêm cẩn, dè dặt thường thấy trong thơ chữ Hán của bà. Nào là những hình ảnh tinh nghịch, sinh động như “đá một chòm”, nào là bút pháp khêu gợi chỉ Hồ Xuân Hương mới có như “Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom”. Hình ảnh này gợi cho bạn đọc liên tưởng tới hình tượng Yoni (âm vật), trong cặp đôi biểu tượng “Linga - Yoni” thuộc tín ngưỡng phồn thực có từ thời nguyên thủy. Chữ “hòm hom” vốn ít xuất hiện trong văn viết, mà phổ biến trong ngôn ngữ dân gian như một phương ngữ để giao tiếp, đùa nghịch, gợi đến những cái hang, hốc tối om, sâu hút. Chữ “hòm hom” độc đáo này được Hồ Xuân Hương dùng lại trong bài “Động Hương Tích” rất sinh động và có phần gợi cảm hơn:

 

“Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm

Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom”

 

Cách dùng chữ đậm tính dân gian “folklore (phôn-clo)” được tác giả tung tẩy tiếp trong hai câu Thực khai triển tựa đề và cả ở hai câu Luận của bài thơ. Những hình ảnh quen thuộc ta vẫn gặp trong đời sống hàng ngày được Hồ Xuân Hương miêu tả bằng thứ ngôn ngữ giàu âm điệu và hình tượng: “trơ toen hoẻn”, “vỗ phập phòm”, “tối om om”. Với hệ thống từ vựng độc đáo này, bà đã đưa bạn đọc tới một nơi mà họ cảm nhận có lẽ chỉ tác giả bài thơ mới biết địa danh đó.

 

Trong bài thơ “Hang Cắc Cớ”, Hồ Xuân Hương đã chọn cách gieo vần độc đáo, vần “om” gợi cho bạn đọc nhớ đến câu thần chú cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara):

 

“Om Mani Padme Hum”

 

Tạm phiên âm theo tiếng Việt: “Ôm Ma Ni Pa (đơ) Mê Hum”, hoặc theo âm Hán-Việt: “Úm ma ni bát ni hồng”. Câu chú này bắt nguồn từ khái niệm về chân lý tuyệt đối và trạng thái rỗng không. Theo Lạt Ma Thubten Zopa Rinpoche: “Âm thanh và câu chú, như tất cả những dạng biểu thị khác nhau, đều ở vị trí của cõi tương đối xuất hiện từ rỗng không” (Thanh Liên dịch).

 

Trong ba phần bố cục (Đề, Thực, Luận) của bài thơ “Hang Cắc Cớ” vừa trình bày, Hồ Xuân Hương đã Việt hóa tối đa phương thức biểu đạt, từ tâm trạng, cảm xúc đến hình ảnh và ngôn ngữ. Bài thơ có chăng chỉ còn dấu vết Đường Thi trong số chữ, số câu và cách gieo vần. Kể cả hai câu Kết “Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc/ Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm”, các hình ảnh đã chuyển động không ngừng, bất tuân theo quy luật cảm xúc. Niêm luật và bố cục của bài thơ như đã được phá bung, như tạo ra một thể thơ khác rất gần với ca dao dân ca, thơ dân gian truyền miệng. Với hai câu kết giàu tính phúng dụ, bài thơ đã tạo sự khiêu khích mang đậm tính dục (libido) qua lối diễn đạt tài tình, hóm hỉnh. Hai câu kết bài “Hang Cắc Cớ” cùng với những câu kết của một số bài thơ khác như: “Ốc nhồi”, “Quả mít”, “Hang Thánh Hóa”, “Đèo Ba Dội”, “Vịnh cái quạt”… đã đưa Hồ Xuân Hương trở thành thi sĩ dám nhảy múa bên miệng vực nguy hiểm mà cũng đầy cuốn hút.

 

Từ thơ chữ Hán đến thơ chữ Nôm là một hành trình đối với Hồ Xuân Hương, một khoảng cách khá xa và mang nhiều nét khác biệt. Thơ chữ Hán du nhập vào Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước, và dĩ nhiên, đó là sản phẩm của văn chương “ngoại nhập”. Trải qua bao thế kỷ, đã có nhiều nhà thơ Việt Nam tên tuổi áp dụng niêm luật của lối thơ chữ Hán. Nhưng sức sống của tiếng Việt, nói rộng hơn là văn hóa Việt trường tồn đã trỗi dậy ở những thi sĩ tài năng và giàu lòng tự tôn dân tộc. Những bài thơ chữ Nôm bất hủ của Hồ Xuân Hương là minh chứng sống động cho tinh thần dân tộc Việt, bản sắc văn hóa Việt.

 

M.N.P

 

 

 

____________

[1] Văn bản được nhận diện cổ nhất có chép mấy bài thơ Hồ Xuân Hương là “Quốc văn tùng ký” do Hải Châu Tử Nguyễn Văn San (1808-1883) soạn vào năm Minh Mạng thứ 14 (1834). Tiếp đến là cuốn sách “Xuân Hương thi tập”, do Phúc Văn Đường tàng bản ấn hành tại Hà Nội năm 1930, có khoảng 60 bài thơ Hồ Xuân Hương in chung với nhiều tác giả khác.

 

 

 

 

 




 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 


























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị