Đặc điểm ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn (Luận văn thạc sĩ) – Phan Thị Việt Hà
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC VINH









 
 


Phan Thị Việt Hà
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hoài Nguyên


 
 
 



ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ MAI VĂN PHẤN

 




LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015






MỤC LỤC

MỞ ĐẦU     

1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu    

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu      

3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu    

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu  

5. Đóng góp của luận văn 

6. Bố cục của luận văn     

Chương 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Những vấn đề cơ bản về thơ và thơ Việt Nam đương đại    

1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thơ       

1.1.2. Khái quát về ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại     

1.2. Vài nét về Mai Văn Phấn và thơ Mai Văn Phấn          

1.2.1. Vài nét về Mai Văn Phấn   

1.2.2. Chân dung thơ Mai Văn Phấn      

1.3. Tiểu kết chương 1     

Chương 2: VẦN, NHỊP TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN

2.1. Vần trong thơ Mai Văn Phấn

2.1.1. Khái quát về vần thơ         

2.1.2. Các nguyên tắc hiệp vần trong thơ Mai văn Phấn 

2.2. Nhịp trong thơ Mai Văn Phấn          

2.2.1. Khái quát về nhịp thơ        

2.2.2. Cách tổ chức nhịp trong thơ Mai Văn Phấn          

2.3. Nhạc điệu trong thơ Mai Văn Phấn 

2.3.1. Mối quan hệ giữa vần và nhịp      

2.3.2. Cách phối thanh trong thơ Mai Văn Phấn          

2.4. Tiểu kết chương 2     

Chương 3: TỪ NGỮ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ NỔI TRỘI TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN          

3.1. Từ ngữ trong thơ Mai Văn Phấn     

3.1.1. Từ ngữ trong hoạt động giao tiếp

3.1.2. Một số lớp từ tiêu biểu trong thơ Mai Văn Phấn 

3.2. Một số biện pháp tu từ nổi trội trong thơ Mai Văn Phấn

3.2.1. So sánh tu từ

3.2.2. Ẩn dụ tu từ   

3.3. Tiểu kết chương 3     

KẾT LUẬN  

TÀI LIỆU THAM KHẢO    

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN





MỞ ĐẦU


1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

1.1. Lý do chọn đề tài

Trong tiến trình phát triển, văn học Việt Nam đã tạo ra được những cuộc cách tân nghệ thuật làm sôi động đời sống văn học trong và ngoài nước. Để làm được điều này, phải kể đến đội ngũ sáng tác, họ là những người tiên phong, với những khát vọng sáng tạo đã đưa đến cho nền văn học nước nhà những luồng gió mới.

Từ năm 1986, sự nghiệp đổi mới đã tạo cơ hội cho văn học Việt Nam hội nhập nhiều hơn với thế giới nên đã xuất hiện số ít nhà thơ (trong và ngoài nước) có ý thức sâu sắc cách tân thơ Việt. Họ có đủ kiến thức thi ca, có nền tảng văn hóa và xã hội sâu rộng, có bản lĩnh khám phá và cả lòng dũng cảm, bình tĩnh trước sức ép công luận, dám chấp nhận đơn độc trên con đường mới, mở ra một không gian thơ khác, sáng tạo tiếng nói khác. Họ khác hẳn số đông từ nền tảng, lý tưởng thi ca đến cách biểu đạt ý tưởng, lập ngôn, cách tạo những chuyển động thi ảnh v.v. Chúng ta có thể kể tên những nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trần Quang Quý, Tuyết Nga, Dương Kiều Minh, Đinh Thị Như Thúy v.v. Trong số những gương mặt tiêu biểu đó, Mai Văn Phấn là nhà thơ giàu bản lĩnh, dũng cảm, mang bản sắc sáng tạo riêng biệt.

Nếu Đồng Đức Bốn là nhà thơ lục bát tài ba bẩm sinh, trung thành với thơ truyền thống, đại diện tiêu biểu cho thi pháp cổ điển thì Mai Văn Phấn là nhà thơ tiên phong sáng tạo theo hướng đổi mới, cách tân, định hình một tư duy thẩm mĩ mới và ông đã thành công. PGS. TS. Đào Duy Hiệp, người đã dành nhiều thời gian nghiên cứu các tác phẩm thơ Mai Văn Phấn, nhận định: “Mai Văn Phấn đã cắm một cột mốc thơ đáng ghi nhận trên hành trình chinh phục ngôi đền thơ hiện đại. Đến nay đã ngót ba mươi năm. Chặng đường thơ sắp tới của anh còn dài và xa trước mặt. Mà cột mốc hôm nay đã đánh dấu một trưởng thành” [29, tr.75]. Còn nhà thơ Đỗ Quyên trong một tham luận rất công phu gửi đến Hội thảo thơ Mai Văn Phấn (15/5/2011) đã khẳng định một cách không do dự rằng: “Mai Văn Phấn là một trong những tác giả có một không hai, với sự cải cách đa phong cách nhất và thuyết phục nhất của thơ Việt đầu thế kỷ 21” [55, tr.204-205]. Có thể khẳng định rằng, thơ Mai Văn Phấn đã nhận được rất nhiều cảm tình của các bạn đồng nghiệp, của giới phê bình chuyên nghiệp với khá nhiều bài viết có chất lượng, mang tính học thuật cao và có sự đa dạng, phong phú ở nội dung thể hiện. Hành trình thơ Mai Văn Phấn là quá trình nhận thức và đổi mới phương cách thể hiện, là khát vọng trong ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp trong nội dung cảm xúc và trong cách tổ chức ngôn từ.

Mai Văn Phấn rất có ý thức trong cách sử dụng ngôn từ theo lối hiện đại, mới mẻ để câu chữ lan tỏa trọn vẹn hết nội hàm và sức lay động của nó trong từng tình huống thơ. Đó chính là cấu trúc điển hình ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn. Do đó, tìm hiểu thơ Mai Văn Phấn chắc chắn sẽ đem lại nhiều hứng thú và bổ ích, giúp ta không những nắm bắt được cá tính của một gương mặt thơ mà còn, qua đó, góp phần nhận diện sự biến chuyển theo hướng hiện đại hóa của ngôn ngữ thơ đương đại. Vì những lẽ đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn làm luận văn tốt nghiệp của mình.

1.2. Mục đích nghiên cứu

Mai Văn Phấn cùng với vài gương mặt thơ khác được đánh giá là những người có đóng góp trong việc cách tân ngôn ngữ thơ đương đại Việt Nam theo hướng hậu hiện đại. Việc nghiên cứu những nét đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn là nhằm chứng tỏ điều đó.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Mai Văn Phấn là một hiện tượng thơ khá mới mẻ, phức tạp.  Chính vì lẽ đó mà ngay khi Mai Văn Phấn vừa  xuất hiện trên thi đàn thì nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà phê bình đã dành cho ông  một sự chào đón nồng nhiệt. Đặc biệt, từ năm 2009 đến nay, khi Mai Văn Phấn liên tiếp công bố 3 tập thơ mới là Hôm sau, và Đột nhiên gió thổi và Bầu trời không mái che với nhiều thể nghiệm mới về thi pháp thì giới phê bình cả trong và ngoài nước đều ngạc nhiên trước sức sáng tạo dồi dào, mạnh mẽ của nhà thơ. Vì thế, số lượng bài viết về thơ Mai Văn Phấn khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, tính cho đến thời điểm này đã có đến hơn một trăm bài viết về thơ ông ở nhiều thể loại: giới thiệu sách, giới thiệu chân dung nhà thơ, thảo luận, nghiên cứu, khảo cứu, phê bình v.v.

Các tác giả như Nguyễn Việt Chiến, Kim Chuông, Nguyễn Đức Hạnh, Đào Duy Hiệp, Inrasara, Đình Kính, Trần Thiện Khanh, Hoài Khánh, Đỗ Quyên, Nguyễn Quang Thiều hầu hết đều thống nhất đánh giá: thơ Mai Văn Phấn là một đóng góp lớn cho quá trình hiện đại hóa của văn học nước nhà và Mai Văn Phấn đồng thời cũng là nhà thơ cách tân hàng đầu trong nền thơ đương đại Việt Nam. Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã tự tin khẳng định rằng: “Nếu có nhà thơ nào đó đang lặng lẽ luôn tự đổi mới thơ mình và phá vỡ các nhịp điệu mòn cũ trong các thể nghiệm thơ hôm nay, theo tôi, người đó phải là Mai Văn Phấn. Từ trữ - tình - cổ - điển, anh “bay” thẳng một mạch vào hậu- hiện- đại, rồi từ đó “lao” vào vòng xoáy đầy ấn tượng của thơ  - cách - tân” [10, tr.420]. Nhà thơ Đỗ Quyên trong bài tham luận gửi đến Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn có viết: “Những sáng tạo của Mai Văn Phấn đã đặt ông vào vị trí những nhà thơ hàng đầu của nền thơ đương đại Việt Nam” [55, tr.130]. Th.S. Trần Thiện Khanh lại đặc biệt đề cao vị trí tiên phong trong tinh thần cách tân thơ của Mai Văn Phấn: “Có thể nói, Mai Văn Phấn thuộc số ít nhà thơ có tham vọng tạo dựng cho thi ca một diện mạo mới từ trong nhịp điệu đời sống hiện đại.”[39, tr.213].

Một số nhà nghiên cứu khác dành mối quan tâm đặc biệt cho sự chuyển biến trên các bình diện nội dung và nghệ thuật trong suốt hành trình thơ Mai Văn Phấn. Nhà văn Văn Chinh cho rằng: Hành trình thơ Mai Văn Phấn là hành trình của sự trở về với bộ đôi song bước: ở bình diện nội dung, đó là “sự trở về với bản thể hồn nhiên, trở về với bản lai diện mục của nhân sinh diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt hơn nhiều”. Và ở bình diện nghệ thuật, đó là “quá trình vùng thoát khỏi các bãi lầy của các trường phái nghệ thuật để trở về với truyền thống, với cổ điển” [8, tr.524]. Còn nhà thơ Nguyễn Hoàng Đức lại đề cập đến sự thay đổi bút pháp thơ Mai Văn Phấn qua các giai đoạn sáng tác: “... Phải nói, anh đã thể nghiệm rất nhiều bút pháp thơ từ cổ điển đến các khuynh hướng thơ hiện đại thế kỷ hai mươi và thơ văn xuôi. Tất cả đều được cày xới, chiêm nghiệm, chìm đắm đến nhuần nhị. Đọc thơ anh, có cảm giác bình thản như một nhạc công đã tu luyện thành thạo và dễ dàng biểu diễn những khúc nhạc khó nhẹ như lông hồng” [18, tr.35]. Ý kiến của PGS,TS. Văn Giá đã giúp bạn đọc nhận ra cái khó trong việc tiếp cận thơ Mai Văn Phấn:“Thế giới thơ Mai Văn Phấn khá bề bộn: bề bộn về số lượng: 370 bài; bề bộn về ý tưởng; bề bộn về thi ảnh. Bề bộn cả về thể điệu: lục bát, đường luật, tự do, thơ văn xuôi, trường ca. Lại đi qua ba quãng tính từ những bài thơ đầu tiên cho đến hôm nay. Thế nên, để gọi ra được “khuôn mặt” nhà thơ Mai Văn Phấn với tất cả những nét đặc sắc riêng quả là một thử thách đối với bất cứ ai” [19, tr.528]. Th.S. Nguyễn Thanh Tâm đã góp thêm một ý tưởng trong việc lí giải tư duy và mĩ cảm của Mai Văn Phấn: Sự hoài nghi và chối từ trật tự, mĩ cảm cũ, sự trực nhận của cảm giác và tâm thế của con người trong bối cảnh sống chất ngất rủi ro đã hướng tư duy và mĩ cảm của tác giả vào từ trường hậu hiện đại.

Một số tác giả khác lại quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn. Họ đều thống nhất ở quan điểm cho rằng, Mai Văn Phấn đã tạo ra được một cách diễn đạt hoàn toàn mới và ở một góc độ nào đó ông đã tạo được một thứ ngôn ngữ thơ mới (sự xóa nhòa ranh giới giữa ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ đời thường). PGS. TS. Hồ Thế Hà trong bài viết Thơ tạo sinh nghĩa Mai Văn Phấn đã có một cách tiếp cận khá mới mẻ từ thế giới hình tượng và ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn. Tác giả  cho rằng: “Mai Văn Phấn đang xóa nhòa ranh giới giữa văn xuôi và thi ca mà vẫn được gọi là ngôn ngữ thi ca (langue poétique), nghĩa là anh luôn thay đổi hệ ngôn từ để chúng làm tiền trạm cho cảm xúc và suy nghĩ của mình để không trở nên xa lạ với mọi người” [20, tr.227]. Còn theo nhà thơ Đỗ Quyên: “Chúng ta đang bàn đến một thi giới gần như không có vốn từ vựng riêng và lạ. Nếu lướt nhẹ trên vài câu vài bài, sẽ tưởng đây là tay viết bình dân. Đọc thơ Mai Văn Phấn không phải tra từ điển Việt - Việt! Không khó hiểu với từng bài lẻ nếu có được vốn tối thiểu của luật câu cú tiếng Việt...” [55, tr. 187]. Cũng trên tinh thần đó, nhà văn Đặng Văn Sinh trong một bài viết về tập thơ Bầu trời không mái che của Mai Văn Phấn đã nhận xét: “Cũng như “Mùa trăng”, ngôn ngữ diễn đạt của “Hình đám cỏ” thoát khỏi cấu trúc mô hình truyền thống, triệt để sử dụng loại câu không chủ ngữ, đảo ngược chức năng cú pháp, đưa ngôn ngữ thơ vào đời thường, hạ phóng thơ từ tháp ngà đến với quảng đại công chúng” [56, tr.118].

Bên cạnh đó, có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến những hình ảnh mang tính biểu tượng trong thơ Mai Văn Phấn. Họ đã chỉ ra rằng: hình ảnh cây cỏ, ban mai, ngọn lửa, đất đai, ánh sáng và người tình là những hình ảnh có sức ám ảnh lớn và xuất hiện lặp đi lặp lại trong thơ Mai Văn Phấn. PGS. TS. Văn Giá nhận định: “Trong rất nhiều thi ảnh bề bộn ở thơ Mai Văn Phấn, có ba hình ảnh cô đọng nhất, chụm nhất nên trở thành tiêu biểu nhất: Đất đai, Ánh sáng và Người tình (được gọi là Em). Cả ba hình ảnh này đều nằm trong sự quy chiếu của lẽ phồn sinh và hóa sinh bất định với tất cả sự sống động của chúng” [19, tr.534-535]. Còn PGS. TS. Đào Duy Hiệp viết: “Nước cùng những đồng vị mưa, sóng, sương, hơi nước... xuất hiện nhiều trong thơ Mai Văn Phấn, nhất là ở giai đoạn sau” [29, tr.66]. Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế lại khai thác thơ Mai Văn Phấn với các ý tưởng và các triết lý nhân sinh thông qua hình ảnh của cây cỏ: “Qua hình ảnh ngọn cỏ, Mai Văn Phấn tung hoành thể hiện các ý tưởng và các triết lý nhân sinh bằng nhiều thủ pháp, tu từ, ẩn dụ, so sánh thị giác, cảm giác... Và hoàn toàn làm chủ các kỹ thuật đó trong việc khai triển Thi pháp của từng trường đoạn sáng tác mà vẫn giữ được trường thuần cảm để dẫn tới một sắc thái tự nhiên... như Cỏ” [38, tr.373].

Một số tác giả lại tập trung khai thác những nét đặc sắc trong địa hạt thơ tình của Mai Văn Phấn. Họ đều thống nhất cho rằng, Mai Văn Phấn đã làm mới đề tài tình yêu muôn thuở bằng nội lực phong phú, phóng dật và rất độc đáo của riêng mình. Tác giả Nguyễn Hoàng Đức đã từng nhận định: “Tình yêu trong thơ Mai Văn Phấn không đơn giản là chiếc giường hoan lạc. Mà đó là một quá trình như nụ ra hoa, rồi hoa ra quả. Những nụ hôn có thể hiện lên như khao khát của hiện tại, những khao khát đó bắt nguồn từ hang thẳm cô đơn, đòi sống, đòi yêu và đòi gieo hạt. Rồi cuối cùng đòi được giang tay đón hài nhi chào đời từ giữa cơn đau tràn đầy hạnh phúc. Một cơn đau vĩ đại như sự trở dạ của Càn - Khôn muốn làm nên một cuộc sinh thành khai thiên lập địa” [18, tr.360]. Trong khi đó, nhà thơ Vi Thùy Linh lại chỉ ra sự khác biệt trong thơ tình yêu của Mai Văn Phấn: “Chưa có ai coi sự gần gũi trong tình yêu là nghi lễ, chỉ có Mai Văn Phấn. Trong thơ anh, ái ân trở thành nghi lễ giao linh thiêng liêng của con người; nghi lễ đầu tiên và cuối cùng” [47, tr.4].

Cuộc hội thảo khoa học về thơ Mai Văn Phấn (và Đồng Đức Bốn) do Hội Nhà văn phối hợp với Hội Văn nghệ Hải Phòng tổ chức ngày 15/5/2011. Tại hội thảo này, có 30 báo cáo đã in thành kỉ yếu đánh giá về thơ Mai Văn Phấn. Tuy nhiên, các báo cáo này cùng với những bài viết đã đăng báo chủ yếu tìm hiểu và đánh giá thơ Mai Văn Phấn từ góc độ phê bình văn học. Trong một số bài viết, các nhà nghiên cứu cũng đã chú ý đến khía cạnh ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn nhưng mới dừng lại ở những đánh giá khái quát, hoặc đưa ra  những nhận xét lẻ tẻ. Do đó, việc nghiên cứu thơ Mai Văn Phấn từ góc độ ngôn ngữ học vẫn còn là mảnh đất bỏ trống.

3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cách tổ chức ngôn ngữ trong thơ Mai Văn Phấn gồm vần, nhịp, từ ngữ và một số biện pháp tu từ nổi trội.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Xác lập một cách hiểu về thơ, ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại làm cơ sở để tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn.

- Miêu tả định lượng và định tính cách tổ chức vần, nhịp và phối thanh trong thơ Mai Văn Phấn, làm nổi bật nhạc điệu trong thơ ông.

- Tìm hiểu những nét đặc sắc trong việc sử dụng từ ngữ và một số biện pháp tu từ nổi trội trong thơ Mai Văn Phấn.

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1. Nguồn tư liệu

Tư liệu khảo sát là 150 bài thơ (chọn) trong 7 tập thơ: Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban mai (1997), Vách nước (2003), Hôm sau (2000), Và đột nhiên gió thổi (2009), Bầu trời không mái che (2010) được tập hợp trong Thơ tuyển Mai Văn Phấn, Nxb Hội Nhà văn, H. 2011.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

- Dùng phương pháp thống kê ngôn ngữ học để xác lập tư liệu.

- Các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp làm nổi bật những nét riêng trong tổ chức ngôn từ thơ Mai Văn Phấn.

- Phương pháp so sánh để khẳng định những cách tân trong ngôn từ thơ của Mai Văn Phấn.

5. Đóng góp của luận văn

Từ các kết quả nghiên cứu, lần đầu tiên, ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn được nghiên cứu một cách có hệ thống từ góc độ ngôn ngữ học. Các số liệu cùng với những nhận xét, đánh giá của luận văn giúp nhận biết những nét đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn. Luận văn khẳng định, về phương diện hình thức thể hiện, ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn có sự tìm tòi đổi mới theo xu hướng hậu hiện đại. Các kết quả của luận văn góp phần xác định vị trí của Mai Văn Phấn trong diễn trình đổi mới ngôn ngữ thơ đương đại Việt Nam.

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn  triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài.

Chương 2: Vần và nhịp trong thơ Mai Văn Phấn.

Chương 3: Từ ngữ và một số biện pháp tu từ nổi trội trong thơ Mai Văn Phấn.









Toàn bộ luận văn theo đường link này!















BÀI KHÁC
1 2 3 4 
























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị