Con đường khác tìm đến thơ Việt hiện đại - Nhà thơ-tiến sỹ Gjeke Marinaj thực hiện PV

Con đường khác tìm đến thơ Việt hiện đại

 (Nhà thơ-tiến sỹ Gjeke Marinaj thực hiện PV)





Nhà thơ-tiến sỹ Gjeke Marinaj




 

Lời giới thiệu của Báo Người Hà Nội: Nhân tập thơ “Zanore në vesë” (Những nguyên âm trong sương sớm) của nhà thơ Mai Văn Phấn (MVP) sắp phát hành ở Anbani, nhà thơ-tiến sỹ Gjeke Marinaj đã thực hiện cuộc phỏng vấn MVP qua email. Đây là tập thơ đầu tiên của Việt Nam hiện diện ở đông nam Châu Âu, do Gjeke Marinaj chọn dịch từ 3 tập thơ tiếng Anh của MVP (Firmament without Roof Cover, Seeds of Night and Day, Out of the Dark) sang tiếng Anbani. Sách do Nhà xuất bản Botimet M&B của Anbani ấn hành, 4/2014. Gjekë Marinaj là nhà thơ, nhà văn, dịch giả, nhà phê bình văn học. Ông sinh năm 1965 tại Malësi e Madhe phía bắc Anbani, hiện định cư tại Hoa Kỳ. Là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Anbani – Hoa Kỳ, được thành lập năm 2001. G. Marinaj nhận bằng tiến sỹ triết học tại đại học Texas, Dallas năm 2012. Hiện ông dạy Anh ngữ và Truyền thông tại Richland College ở Texas. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

 
- Đã ngàn năm nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội đã phản ánh niềm tin thực sự của nhân dân Việt Nam bằng tri thức và văn học, cũng như với tôn giáo và đấng tối cao. Sự thành kính đặc biệt này đã tác động đến trách nhiệm của ông, với tư cách một nhà thơ của công chúng như thế nào?


- MVP: Đây là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nơi đào tạo và nuôi dưỡng các hiền tài, giúp các vương triều khai mở và chấn hưng đất nước. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và mãi sau này, Văn Miếu - Quốc Tử Giám luôn là niềm tự hào, biểu tượng thiêng liêng, là tinh hoa văn hóa, ánh sáng của tri thức và bản sắc dân tộc Việt. Chúng tôi đang đi tiếp chặng đường mà tổ tiên đã khai mở, họ từng đặt những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Thế hệ chúng tôi đang khẳng định tiếng nói của riêng mình trong đời sống văn học đương đại, tiếp tục tôn vinh văn hóa Việt ở những vỉa tầng khác nữa trong quá trình hội nhập thế giới.


- Phong cách thơ của ông đã thay đổi trong những năm qua từ truyền thống đến bán hiện đại và hiện đại. Hiện tại nhiều bài thơ mới của ông có thể được mô tả với ý nghĩa độc sáng. Điều gì đã gây cảm hứng cho ông khi chuyển sang một thi pháp thơ khác? Việc thay đổi những bài thơ trong lần rẽ gần đây nhất có tầm quan trọng với ông thế nào?


- MVP: Đến với văn chương, ban đầu tôi coi thơ ca truyền thống là điểm tựa để xuất phát. Tôi được dưỡng dục bằng lời ru của mẹ, bằng ca dao, dân ca..., bằng những tác phẩm của các nhà thơ thuộc nhiều thế hệ. Rồi tôi tìm đến những nền thơ lớn khác như Trung Hoa, Ấn Độ, Nga, Anh, Pháp, Mỹ La tinh, những khuynh hướng thơ ca cận đại và hiện đại của thế giới. Những nền thơ, khuynh hướng ấy giống như dòng sông chảy miết, đã để lại phù sa cho những bờ bãi, cánh đồng. Bằng tâm thức và cảm xúc Việt, tôi đã gieo cấy, thu hoạch mùa màng trên đất đai màu mỡ ấy; hy vọng làm giàu có thêm giá trị truyền thống thơ Việt đương đại mà mình đang được thừa hưởng. Trong những bài thơ viết gần đây, tôi đã cất tiếng nói hồn nhiên và hiện đại để xác lập ngôn ngữ mới cho riêng mình. Đó chính là con đường tôi chọn để tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc tôi, hiện đại hóa những bài thơ mang tinh thần Việt.


- Trong bài trả lời phỏng vấn trên Báo Hải Phòng cuối tuần (1/2000) của Việt Nam, ông có ý nói về những dư luận trái chiều trong phê bình văn học: "... một bài thơ mà ai cũng khen có khi lại là một sản phẩm chạy theo mốt thời thượng".  Vậy phải chăng thơ của ông vẫn bị phê phán ở Việt Nam?


- MVP: Đời sống văn học Việt Nam đang thay đổi nhanh, đồng thời nảy sinh những phân hóa trong bạn đọc. Sự xung đột trong thẩm định nghệ thuật nói chung, đặc biệt đối với thơ ở đây cũng khá dữ dội và quyết liệt. Lịch sử cho thấy, những xung đột về thẩm mỹ trong nghệ thuật thường kích hoạt những giá trị tiến bộ phát triển và sớm được định hình. Đáng mừng là bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ đã nhiệt tình đón nhận những giá trị mới lạ. Những ý kiến phê phán thường làm tôi thấy thú vị hơn những lời khen ngợi, bởi mọi ý kiến đều có căn nguyên của nó. Những căn nguyên lại dễ thấy trong phê phán, tranh luận…



- Để những giá trị tiến bộ tồn tại và sớm được khẳng định, ông đã và đang làm gì để thúc đẩy quá trình đó diễn ra nhanh hơn?

 

- MVP: Trước đây tôi cách tân thi pháp theo hướng cực đoan, biểu đạt bằng hệ thống ngôn ngữ khá biệt lập và bí hiểm. Điều ấy không sai, nhưng ít người thấu hiểu và chia sẻ. Những năm gần đây, vẫn cách thiết lập không gian và thời gian đa chiều, vẫn những thi ảnh đặt xa nhau trong cảm xúc mạnh và nhất quán, nhưng tôi chủ ý vươn tới sự tối giản, dung dị hơn. Tôi cũng tìm cách đồng hóa ngôn ngữ thi ca và với cách nói trong sinh hoạt đời thường. Đồng thời, tôi viết tiểu luận và phê bình văn học để tường giải, biện minh cho các tác phẩm của một số nhà thơ có cùng khuynh hướng với tôi. Một tác giả có xu hướng cách tân có lẽ chỉ là một điểm độc sáng. Nhưng để tạo nên một khuynh hướng văn học có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của cộng đồng thì cần có những tác giả có cùng chí hướng. Nhiều đợt sóng gối lên nhau mới tạo thành con sóng lớn.


- Tuy nhiên, chỉ một thập niên sau đó, ông đã được trao giải thưởng có uy tín của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã điều chỉnh những tác phẩm của mình như thế nào trong thời kỳ 2000 - 2010 để thay đổi nhận định của các nhà phê bình sang một phương diện khác, để họ công nhận ông xứng đáng là một nhà thơ từng đoạt giải?


- MVP: Văn học nói chung, đặc biệt thơ Việt đã đổi mới, cách tân trong thập niên qua, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng sáng tác và phê bình văn học. Những thay đổi về quan niệm thẩm mỹ đã và đang diễn ra trong đời sống tinh thần người Việt. Có thể gọi đó cuộc thoát xác của thơ Việt đương đại, dù rằng nó vẫn còn trong cơn vật vã để khẳng định. Với cá nhân tôi, điểm xuất phát và đích đến của từng giai đoạn đều được hoạch định với thái độ tự tin và kiên nhẫn. Tôi luôn tin rằng những bài thơ được hoài thai bằng cảm xúc mạnh, sau khi ra đời sẽ có thần thái và tồn tại như một sinh linh. Mỗi tác phẩm đều có số phận riêng của nó, trước hoặc sau sẽ được hiển lộ.


- Những tiêu chuẩn mà các nhà phê bình văn học Việt Nam sử dụng khi đánh giá những tác phẩm văn học đương đại khác nhau thế nào? Mức độ khách quan của chúng ra sao?

 

- MVP: Khi các khuynh hướng, trào lưu hiện đại, hậu-hiện-đại, tân hình thức, tân cổ điển... của văn học phương Tây được nghiên cứu và quảng bá ở Việt Nam, số ít các nhà phê bình văn học, học giả, các giáo sư ở một số trường đại học đã có cách tiếp cận, đánh giá tác phẩm bằng tinh thần khoa học, dân chủ và công bằng. Họ nhận ra những giá trị mới và đã thừa nhận nó. Nhưng số đông người đọc, trong đó có cả nhà phê bình vẫn theo thói quen cũ, lấy kinh nghiệm và kiến thức cũ làm tiêu chuẩn thẩm định tác phẩm. Họ dị ứng với những tác phẩm viết theo khuynh hướng khác, trái với những gì mà họ đã biết, đã từng cảm thụ. Họ cũng không biết mình đã đánh mất tính khách quan khi đọc tác phẩm của người khác. Do vậy, nhiều cuộc tranh luận văn chương đã xảy ra, dẫn đến tình trạng loạn chuẩn trong thẩm định tác phẩm văn học.


- Tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ, bao gồm tiếng Anbani, Anh, Pháp, Indonesia, Hàn Quốc, Thụy Điển, Thái Lan... Việc các tác phẩm của ông được dịch sang tiếng nước ngoài có ý nghĩa với ông thế nào?


- MVP: Có thêm nhiều người đọc, tôi coi đó là niềm hạnh phúc của một người cầm bút. Tôi đã sống, viết, và cả dằn vặt như bao kẻ sáng tạo khác. Khi có thêm những tác phẩm được dịch sang những ngôn ngữ khác, tôi càng tự tin khẳng định thi pháp mà mình đã lựa chọn. Đó là thi pháp hiện đại nhằm biểu đạt, làm sáng rõ căn tính Việt.


- Ông vừa nói đến căn tính Việt trong thơ. Vậy có bao giờ ông nghĩ đến thơ Việt Nam sẽ tạo ra một trường phái, khuynh hướng riêng có tầm ảnh hưởng khắp toàn cầu, giống như các khuynh hướng của chủ nghĩa hiện đại phương Tây mà các ông đã từng ảnh hưởng? Nếu có thì kế hoạch cụ thể của ông là gì?

 

- MVP: Điều ông vừa nêu có lẽ cũng là khao khát của nhiều nhà thơ các dân tộc khác. Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đặc sắc. Nhưng, nhiều cuộc tao loạn trong lịch sử và những cuộc chiến khốc liệt đã khiến các nhà thơ Việt Nam buộc phải sử dụng thơ như một vũ khí chống quân xâm lược. Đó chính là đặc thù của thơ Việt từ xa xưa đến cuối thế kỷ 20. Suốt gian ấy, giá trị của thi ca luôn gắn với máu và nước mắt của những người đã chết cho Tự do, cho Hòa bình và Công lý. Thế hệ trẻ kế tiếp muốn thoát khỏi cái bóng của thế hệ nhà thơ đi trước trong chiến tranh quả không dễ chút nào. Ở châu Á có sự tích cá chép từng vượt qua ba đợt sóng dữ mới lọt qua cửa Vũ Môn để hóa thành rồng. Giấc mơ cá chép hóa rồng có lẽ là niềm khát khao của tất cả các nhà thơ ở đây. Dĩ nhiên, cần biến giấc mơ ấy thành “kế hoạch cụ thể” như ông vừa nêu. Với tôi, thi pháp hiện đại và căn tính dân tộc là điều kiện tiên quyết để thơ Việt có thể vượt qua cửa Vũ Môn.


-
Thơ là một nghệ thuật kỳ diệu để duy trì sự tồn tại và phát huy các giá trị của văn minh. Ông đã làm gì như một nhà thơ cho sự tiến bộ của quá trình này?


- MVP: Tôi quan niệm thơ ca trước hết phải tạo ra cái Đẹp và mục đích cuối cùng vẫn phải hướng con người tới sự cao cả, thánh thiện. Khi viết, tôi luôn để ánh sáng nhân bản, thanh khiết từ trái tim tôi tỏa rộng khắp không gian mà tôi đang chế ngự. Tôi mong muốn ánh sáng đó tạo nên hấp lực riêng để dẫn dụ, đánh thức nhân tính, lòng bác ái của mỗi con người.


- Ông là công dân của một đất nước giàu lòng tự tôn và tự hào rằng, trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã tìm ra cách để tồn tại, chống lại và chiến thắng bất kỳ kẻ thù nào, dù có được trang bị vũ khí đầy đủ nhất, nhằm xâm lược lãnh thổ hoặc thay đổi cuộc sống của người Việt. Và khi ấy, không ai có thể bỏ qua sức mạnh của thơ ca. Nó được sử dụng như một giải pháp quan trọng trong việc quy tụ sức mạnh tinh thần của nhân dân trong thời gian chiến tranh khốc liệt. Với vai trò to lớn của lịch sử, liệu ông có thể chia sẻ với chúng tôi về việc trở thành một nhà thơ xuất chúng của Việt Nam ngày nay như thế nào?


- MVP: Như đã nói, thơ đã góp phần quan trọng làm nên sức mạnh tinh thần của dân tộc tôi trong sự nghiệp giữ nước, chống giặc ngoại xâm. Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt là một bài thơ Thần, chỉ gồm 4 câu được dân gian cho là của danh tướng Lý Thường Kiệt (1019-1105) viết cách đây gần mười thế kỷ. Có thể nói, thơ ca trong các thời kỳ chiến tranh dựng nước và giữ nước đã góp phần làm nên bức trường thành vệ quốc. Khi kết thúc chiến tranh, các nhà thơ không chỉ viết về những điều bình dị của cuộc sống, cảm thông với nỗi đau khổ của con người, thể hiện những khát vọng về tự do, công bằng, nhân ái..., mà bằng ngôn ngữ của dân tộc mình, nhà thơ cần phải khám phá tận cùng bản thể, những riêng tư, trắc ẩn của chính mình, để làm nên một nhân loại lớn trong sáng tạo. Đó là điểm đến của một thi sĩ đích thực. Việt Nam đã từng có thi hào Nguyễn Du (1766-1820) được Unesco vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới. Ông là một nhà thơ thấu hiểu nỗi bất hạnh của những kiếp người bạc phận, nhỏ mọn. Đó chính là khuôn mẫu một nhà thơ xuất chúng cho những nhà thơ đương đại.


- Hãy kết thúc cuộc phỏng vấn với một ý niệm trong tưởng tượng: Nếu trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, ông có cơ hội làm cho cả thế giới nhìn Việt Nam qua con mắt của ông, ông vẫn sẽ hướng sự chú ý của chúng tôi tới thơ ca của mình hay sẽ tạo một cái nhìn khái quát về những phong cảnh tươi đẹp của đất nước ông?


- MVP: Nếu có được một khoảnh khắc ngắn ngủi tưởng tượng như ông nói, tôi sẽ dồn tâm trí và cảm xúc viết một bài thơ ngắn, mong được cả thế giới đọc nó và nhìn thấy hết vẻ đẹp cao cả, sáng trong tâm hồn Việt trong bối cảnh là những kỳ quan trên đất nước tôi.

 

- Cảm ơn nhà thơ Mai Văn Phấn!

 

(Nguồn: Báo Người Hà Nội, số 15 ra ngày 4/4/2014)

 







Bìa tập thơ "
Zanore në vesë" (Những nguyên âm trong sương sớm)





ANOTHER WAY LEADING TO THE  MODERN VIETNAMESE POETRY

 

(The answers to Doctor - Poet Gjeke Marinaj’s interview)

 


 

 

1 - For nearly one thousand years, the Temple of Literature - the Royal College in Hanoi have reflected the true faith of the Vietnamese people in literature and knowledge as virtual parallels to religion and God. How does such unique devotion effects your sense of responsibility as a public poet?

 

- MVP: Undergoing the ups and downs in history and in the future, the Temple of Literature – the Royal College are always the sacred pride and  symbol of the Vietnamese culture quintessence, the light of our nation’s knowledge and character. This is the first university in Vietnam, the place that trained talented and righteous people, supporting royal dynasties to enlarge and improve the country. We are continuing to go on the road opened and planted with brilliant red landmarks in our history of national building and defense by our ancestors. Our generation – to which I hope to give my little contribution – is affirming its own voice in the contemporary literature life, and continue to honor the Vietnamese culture in another stratum in the integration process into the world.

 

2 - Your poetic style has changed over the years from traditional to semi-modern to fully modern. Now much of your new verse can be characterized as ekphrastic. What inspires you to comment upon another art forms poetically and how essential is it for you to give these poems your own final twist?

 

- MVP: Coming to literature, I consider the traditional poetry as a fulcrum to start. Starting my career from my mother’s lullaby, folk ballads, folk-songs etc, from the works of the poets in many generations, and then I come to the mankind’s grand poetries such as Chinese poetry, Indian poetry, Russian poetry, British poetry, French poetry, Latin American poetry etc and the world’s contemporary poetry trends. Those poetries and trends are like rivers running unceasingly ahead, leaving alluvium river banks and fields behind. And, with my Vietnamese consciousness and emotion, I have seeded, transplanted and reaped my harvests on that land with a lofty aspiration of enriching the contemporary Vietnamese poetry tradition value which I am inheriting. In my latest poems, I have used the natural, unaffected voice in a modern style to set up a specific language for my poems. This is the way selected by me to come back to my nation’s culture original point – It is also the way I modernize my pure Vietnamese poems.

 

3 - In a January 2000 interview, printed in the Weekend Journal of Hai Phong, Vietnam, you defended your work against the Vietnamese literary critics by utilizing these words: "... a poem being praised by everybody might sometimes be a product running after a mode in vogue." Is your poetry still "strongly refuted" in Vietnam?

 


- MVP: The Vietnamese literature life is in a strong transformation, which shows an obvious differentiation. The conflict in the assessment of the art values in general, and of poetry in particular is often very fierce and drastic. Thanks to my deep understanding of this situation, I am very calm and self-confident when hearing the opposite public opinions about my works. The literature history shows that the aesthetic conflicts in the art often activate the progressive values’ development and early affirmation. It is very good that more and more readers come to my poetry with every passing day, chiefly the young ones. This is a great encouragement to me, because the readers in the new generation are often of great learning and quickly acquire new trends in other art fields such as music, movies, theatre, painting, architecture, fashion etc. With the plentiful and modern knowledge, they are an important part of the art assessment.

 

4 - In order for the civilized values to exist and be affirmed, what have you been doing to promote that process?

 

- MVP: Formerly, I renovated my prosody in the extreme spirit, often pursuing to the end the ideas that I had understood, shown by my own language system. It was not wrong but very few people understood and shared it. In the recent years, I have set up the multi-direction space and time, thinking of isolated images or placed far from one another in strong emotions, but I have willfully reached to the maximal simplicity, purity and holiness. I have also tried to acculturate the poetic language with the daily-life language for my poetry to reach the more realistic value. Together with my creation, I have written poetic assays and literary reviews. I have explained and justified for the works of some poets having the innovation tendency in my generation by the method of comparison with the prosody of the contemporary new poets’ generation.

 

5 - Yet, merely a decade later, you won the prestigious "Vietnam Writers’ Association” Award. What kind of adjustments have you made to your works during the 2000 - 2010 period to change your critic's perception to the other extreme,  recognizing you as a award-winning poet?

 

- MVP: Because you mentioned it, I would like to add more that The Vietnam Writers’ Association’s Award is one of the important affirmations in the general public opinion on the progress in the Vietnamese literature life. The literature in general and the Vietnamese in particular have drastically renewed and renovated in the recent decade and many tendencies of creation and literary review. The changes of the aesthetic conception have drastically and silently happened in each creative individual and each reader. It can be called as a sloughing of the contemporary Vietnamese poetry, though still in the birth’s writhe. As to me, the departure point and destination of each period should be planned with the self-confidence and patience. I always believe that the lines of verse gestated by a fierce emotion, upon the birth will bear an appearance, a soul and exist as a sacred human life. Each complete work has its own destiny. Sooner or later, it will appear and nothing can hide or destroy it.

 

6 - What are some of the parameters that the Vietnamese literary critics follow when judging various works of contemporary literature and how objective are they?

 

- MVP: Upon the trends and tendencies of modernism, post-modernism, new form, new-classicism etc in the Western literature were studied and popularized in Vietnam, a few literary critics, scholars in the research institute, professors in some universities had a way to approach and assess works in a scientific, democratic and impartial spirit. They have found new values and recognized them. This is a great encouragement to the poets like me. But the majority of readers including literary critics, still in their former habits, use their former experience and knowledge as the assessment instrument. They are very allergic to the works created in other tendencies, opposite to what they have known. They don’t know that they have lost their objectiveness, either when they read others’ works. Therefore, many literary discussions, sometimes useless, have frequently happened, leading to the standard disorder situation in the literary review.

 

7 - Your work has been translated into several languages, including Albanian, English, French, Indonesian, Korean, Swedish, and Thai. What does it mean to you to be translated into other languages in Vietnam?

 

- MVP: As the same as other poets, when more people read my verses, I am very happy and realize that it is a great happiness of a writer. I have lived, created and also suffered from the painful torment in the creation etc. I have received, selected the quintessence of the literature tendencies on the world with the love and responsibility of a Vietnamese citizen. And when my works are translated into many other languages, I have more self-confidence to affirm the Vietnamese character in my verses in the future.

 

8 - You've just talked about the Vietnamese character in poetry. So have you ever thought about Vietnamese poetry creating its own trend, a worldwide effect, just like the trend of western modernism that you were affected by? If yes, then what is your detailed plan?

 

- MVP:  It is a problem, a challenge. I believe that the issue you have mentioned is also a thirst of many poets in other nations. Vietnam owns a special culture. But, many chaos in history and violent wars in the latest time have caused the Vietnamese poets to use their verses as a kind of weapon against the aggressors. That fact is the Vietnamese poetry’s specific characteristics. The poetry value is always connected to the tears and blood of those who have died for Freedom, Justice and Peace. It is quite not easy for the next young generation to escape from the shadow of the poet generation going in advance in the war. Right now, some poets have come to the creation tendency of the Western literature as a “fence climb”. But the result shows that, some appearing works just stop at the level of receiving the influence of the Western literature or imitating it. The world poetry can be compared with a tower. If we don’t receive, inherit and surpass the world’s tendencies, it will be difficult for our poetry to have a chance of appearance though at the low floor of that tower. I just think that, if the Vietnamese poets spare no efforts for creation to cause the world to know about the Vietnamese poetry and recognize it as a special poetry, their effort is a great success already.

 

9 - Poets by nature sometimes undertake unrealistic missions for the betterment of the humanity as a whole. What is your mission as a poet and have you done enough to accomplish your goal?

 

- MVP: I think that poetry at first should create Beauty and its final goal is to direct mankind to loftiness and holiness. When composing, I let the light of humanity and purity from my heart pervade the whole space that I am controlling. I desire that that light will be maintained in my verses, creating a specific attraction to entice, wake up the human nature, love, humane heart of everyone everywhere in the world.


10 - You are a citizen of a proud country that throughout history has found a way to survive and win against any armed forces  who attempted to either occupy your land or change the way of life of the Vietnamese people. And no one can ignore the power of poetry, used as an important tool in organizing the Vietnamese people during their times of trial. Given the magnitude of all that history, can you share with us what is it like to be a prominent poet in Vietnam today? 

 

- MVP:  Poetry has made an important contribution to my nation’s spiritual strength in its anti-foreign aggression and national defense cause. The first Independence Declaration of Vietnam considered as a Deity poem of four lines was composed by Famous General Ly Thuong Kiet(*) (1019–1105) nearly ten centuries ago. One can say that Poetry in the national foundation and defense war periods has made a contribution to the establishment of the national defense great wall. Upon the war termination, the poets not only write about the simply issues in life, deeply sympathizing with the people’s misery and pains, showing the aspirations of freedom, justice and mercy etc but also, with their nation’s language, should discover the utmost of individuals to create a great mankind in their creation. A true poet will be like that. Vietnam has once had Great poet Nguyen Du(**) (1766 - 1820) recognized and honored as the world cultural celebrity. He was a great poet who knew how to bend down in front of the misfortunes of the humble human life. It is the model of an outstanding poet for the poets of the present time.

 

11 - Let's end this interview with a magic notion: If for a brief moment you were given the opportunity to make the entire world see Vietnam through your eyes, would you still direct our attention to your poetry or perhaps you would offer us a glimpse into your countries' beautiful landscape?

 

- MVP: If I had a brief moment as you said, I would spare no strength and energy to write a short poem with the hope that the whole world would read it and see the noble and pure beauty in the Vietnamese soul spread from the wonderful landscapes in my country.

 

Translated by Phạm Văn Bình

 

 


 

 

NOTES:

 

(*) Ly Thuong Kiet (1019–1105):

 

Lý Thường Kiệt was born into a Ngô family in Thăng Long, the capital of Đại Việt. His real name was Ngô Tuấn. His father was a low-ranking general. In 1036, he served the Emperor as a captain in cavalry and later lead the imperial guard force. Because of his bravery, intelligence and loyalty, he was granted a royal name, Lý Thường Kiệt, and given an important position in the Court.

 

In 1075, Wang Anshi, the prime minister, told the Song Dynasty emperor that Đại Việt was being destroyed by Champa, with less than ten thousand soldiers surviving, hence it would be a good occasion to annex Đại Việt. The Song emperor mobilized troops and passed decrees to forbid all the provinces to trade with Đại Việt. Upon hearing the news, the Lý ruler sent Lý Thường Kiệt and Nùng Tôn Đản with more than 100,000 troops to China to carry out a pre-emptive attack against the Song Dynasty troops. In the ensuing 40-day battle near modern-day Nanning, the Đại Việt troops were victorious, capturing the generals of three Song armies.

 

In 1076, the Songs formed an alliance with Champa and the Khmer Empire and sent troops to invade Đại Việt. Lý Nhân Tông sent, again, Lý Thường Kiệt. Being one of the many great military strategists of Vietnam, Lý Thường Kiệt had placed spikes under the Như Nguyệt River before tricking the Song troops into the deadly trap, killing more than 1,000 Chinese soldiers and forcing the Chinese to retreat.

 

Those two glorious victories over the Song stopped their attempt to extend south.

 

After the victory against the Song, he also led a Vietnamese army to invade Champa two times with big victories.

 

Lý Thường Kiệt is one of the national heroes of Vietnam.

 

He died in 1105, at the age of 86.

 

Nam Quốc Sơn Hà

He is considered the author of Vietnam’s first Declaration of Independence: the Chinese-language poem, Nam Quốc Sơn Hà.

 

Original Chinese

Sino-Vietnamese



Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

English translation

Over Mountains and Rivers of the South, reigns the Emperor of the South

As it stands written forever in the Book of Heaven

How dare those barbarians invade our land?

Your armies, without pity, will be annihilated.

 

(**) Nguyen Du (176 - 1820):

 

(Redirected from Nguyen Du) Jump to: navigation, search

 

Nguyễn Du (1765–1820, pennames Tố Như and Thanh Hiên) is a celebrated Vietnamese poet who wrote in Chữ Nôm, the ancient writing script of Việt Nam. He is most known for writing the epic poem The Tale of Kieu.

 

Nguyễn Du was born in 1765 in Tiên Điền village, Nghi Xuân district, Nghệ Tĩnh province (now Hà Tĩnh province), Vietnam. He was the seventh child of Nguyễn Nghiễm, a former prime minister under the Lê Dynasty. By the age of thirteen, Nguyen had lost both of his parents, so for most of his teen years he lived with his brother Nguyễn Khản or with his brother-in-law Đoàn Nguyễn Tuấn.

 

At the age of 19 (some sources say 17), Nguyen passed the provincial examination and received the title of "tú tài", which made him (very roughly) the equivalent of a high school graduate. However, in Nguyen Du's time this was a far more difficult credential to obtain, both because few people were affluent enough to devote themselves to study.
Nguyen’s mother was his father’s third wife and noted for her ability at singing and composing poetry. In fact, she made her living by singing, which at that time was considered a disreputable occupation. It is said that Nguyễn may have inherited a part of his talents from his mother. He loved listening to traditional songs; and there was a rumour that, when he was 18, he himself eloped with a songstress.

 

After passing the provincial exam, he was appointed to the position of a military advisor in the Royal (Trinh) army. After the Trinh Lords were defeated in 1786 by Nguyen Hue (the second youngest and most popular of the three Tay Son brothers, Nguyen Du refused to serve in the Tay Son administration. He was arrested and held for some time before he moved back to his native village in the north of the country.

 

When Nguyen Anh defeated the Tây Sơn and took control over all of Vietnam in 1802, Nguyen Du agreed to serve in his administration (many mandarins from the north refused to do this as it was widely felt that a mandarin should only serve one dynasty). At first he was given his old post of military advisor but after a decade he was promoted to ambassador to China (1813). While in China, he discovered and translated the Ming dynasty era tale that would become the basis for the Tale of Kieu. He was later appointed to two more diplomatic missions to Peking, but before he could depart for the last one, he died of a long illness for which he refused treatment.

 

Nguyen's father had been a minister under the Lê dynasty, and his family had benefited greatly under their rule. For most of his life, Nguyen Du was haunted by what he felt was his own betrayal of the rightful rulers of Vietnam, which occurred when he accepted a post under the Nguyễns.

 

The Tale of Kieu

 

It is necessary to keep in mind this historical and social background in order to understand both Nguyen Du and his main work, The Tale of Kieu (Vietnamese Truyện Kiều), which was based on an earlier work known as Kim Vân Kiều and was originally titled Đoạn Trường Tân Thanh (lit. new accents of a heart-rending song).
The Tale of Kieu was written under the pen-name as the story was quite critical of basic tenants of Confucian morality. It is the tale of two lovers forced apart by the girl's loyalty to her family honor. Nguyen added his own pain and guilt over his betrayal of his own honor, and the result is one of the great masterpieces of Vietnamese literature.
In Vietnam, the poem is so popular and beloved, that (it is claimed) there are illiterate farmers who know the whole work by heart, and can recite it without a mistake.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 



























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị