Mặt trời tinh khiết của Metin Cengiz - The Pure Sun of Metin Cengiz (phê bình) - Mai Văn Phấn

Mặt trời tinh khiết của Metin Cengiz

(Đọc tập thơ "Mặt trời tinh khiết" của Metin Cengiz, do Nguyễn Thị Tuyết Ngân dịch từ Anh ngữ, Nxb Hội Nhà văn, 2015)

 





 

Bìa 1 tập thơ “Mặt trời tinh khiết / The Pure Sun”

 

 

 

 

 
Nhà thơ Metin Cengiz

 

 

 

 

Mai Văn Phấn

Bản dịch Anh ngữ của Hồ Liễu

 

 

 

 

“Mặt trời trong giấc mơ tôi”

(Metin Cengiz)

 

 

“Mặt trời tinh khiết/ The Pure Sun” là tên tập thơ song ngữ Việt - Anh của nhà thơ Metin Cengiz (Thổ Nhĩ Kỳ) được dịch giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân chuyển ngữ. Cả tập thơ như mật ngôn đầy thách thức những người trước nay vẫn chưa thoát được thói quen sống trong u tối, mê muội. Sự tinh khiết vốn là một khái niệm thông thường, dễ hiểu. Nhưng trong tập thơ này, khái niệm ấy được dùng làm tính từ cho “mặt trời” lại là tín hiệu cần được giải mã. Và, “chìa khóa" để giải những tín hiệu ấy nằm trong từng bài thơ sâu thẳm, tuyệt đẹp, đầy bí ẩn của Metin Cengiz.

 

Dõi theo “Mặt trời tinh khiết”, tôi thấy được hiện thực đời sống đương thời, lịch sử, văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ hiện ra sống động qua từng trang thơ của Metin Cengiz. Mỗi sự kiện trong đó đều được soi rọi bằng ánh sáng khác biệt, cho ta quan sát và tưởng tượng một thế giới thơ phong phú, giàu bản sắc. Từng có nhiều hình tượng thơ ẩn dụ đời sống, thiên nhiên, vũ trụ…, nhưng khái niệm “Mặt trời tinh khiết" đến nay mới chỉ xuất hiện và tồn tại duy nhất trong thế giới thơ của Metin. Đó cũng chính là bản sắc độc đáo mà nhà thơ Mertin Cengiz tạo ra cho thơ mình. Và qua từng bài thơ, ông dẫn người đọc đến với thế giới tinh khiết của riêng ông.

 

Như trong bài thơ “Điều thời gian bắt ta phải nói”, nhà thơ hé lộ một phần những bí ẩn trong thế giới thơ đầy mật ngôn ấy: Như thể tôi là một lỗ thủng làm từ sự nghi ngờ/ Ngọn gió bên trong tôi cất tiếng hú. Bài thơ khiến tôi phải ghé mắt nhìn qua “lỗ thủng” ấy của Metin Cengiz. Và ngay lập tức, tôi cảm giác mình là một đứa trẻ bị giam trong bóng tối lâu ngày được nhìn thấy vẻ rạng rỡ của một ban mai. Tôi được thấy những kỳ hoa dị thảo mà trước đây chưa từng được biết đang phồn sinh trong khu vườn thơ của Metin. Đó là những cái cây nở nụ cười khi được tưới nước, chúng có thể nở hoa và kết trái tới vĩnh hằng. Một con chim đang lưỡng lự khi bay, những giọt nước được đốt cháy trên một ngọn đồi, một cơn mưa làm cho tất cả mọi vật đều trở nên bao la như bầu trời vậy. Một dòng cảm xúc trong trẻo, mát lành lan chảy trong những câu thơ: Đứa bé như đang bay với niềm hạnh phúc của mình/ Con bồ câu đang bay với niềm hạnh phúc của em bé (Một câu chuyện.

 

Trong thế giới thơ của Mertin Cengiz, chúng ta được nghe câu chuyện về cơn gió biết tựa vào những cái chuông để ngân lên những khao khát, ước vọng. Chuyện về mỗi ngày, nhà thơ cảm nhận thấy số phận của mình là một vết thương lớn không tưởng trong vũ trụ quá khổ của một con người. Rồi chúng ta được chứng kiến trái tim của nhà thơ biết hít thở như một rừng cây bên bờ một vực thẳm mơ hồ. Thơ Mertin trải ra ăm ắp những dữ liệu của đời sống như cái bẫy, tiếng cười, ổ bánh mì, một điếu thuốc trên tay đang cháy một nửa… Cuộc sống đời thường đi vào thơ Mertin, khiến cho người đọc nhận ra, mỗi bài thơ đến với Metin hết sức tự nhiên và bình dị.

 

Thơ Metin Cengiz có sự tương đồng với thơ của các tác giả lớn trên thế giới. Nhà thơ đưa ra câu hỏi, sự tra vấn, dày vò về con đường số phận của dân tộc ông đang trải qua trong những bài thơ. Đó là vấn nạn chiến tranh giành giật đất đai, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, cuộc sống cùng cực của những người dân nghèo đói dưới đáy xã hội, sự bất công và bác ái, tự do và mất tự do v.v. Trong cuộc chiến đấu chống lại cái ác, đi tìm ánh sáng giữa bóng đêm tối tăm, Metin Cengiz đã vận dụng và huy động tối đa quyền năng và sức mạnh của thơ ca. Ông run lên bằng trái tim bao dung và nhân hậu của người mẹ khi nghe tin thành phố Baghdad chìm trong đạn lửa chiến tranh. Ngọn lửa của thù hận, chia rẽ đang hủy diệt sự sống con người, phá hủy đền đài, những công trình văn hóa của nhân loại có hàng ngàn năm tuổi: Baghdad xa xôi như một gạch nối/ Xa như một con chim giữa hai ngọn lửa (Baghdad). Những câu thơ giàu lòng nhân ái của Metin Cengiz tựa những ngọn đèn được thắp lên giữa thành phố Baghdad ngập chìm trong khói bom và đêm đen mù mịt, nơi những bệnh viện thiếu thuốc chữa bệnh, những con người bị cơn đói và những vết thương sâu trên cơ thể và trong tâm hồn dày vò. Ông mô tả những năm tháng ác nghiệt mà dân tộc ông đang gánh chịu, tựa những đoàn tàu trôi qua một đường hầm dài ngày đêm vang lên tiếng rít ghê rợn của sắt thép và những tiếng ồn không tưởng, đến mức ngay cả những ngọn gió cũng cảm thấy chúng ở rất xa con người.

 

Trong bài thơ về Gaza, một dải đất hẹp ven biển dọc theo Địa Trung Hải, Metin Cengiz mô tả cuộc sống con người phải chịu đựng trong lò lửa của những cuộc chiến tranh giữa các sắc tộc tôn giáo, giữa các quốc gia tranh giành quyền làm chủ đất đai. Đây là vùng lãnh thổ có mật độ dân số cao nhất trên trái đất, với khoảng 1.4 triệu người sống trên khu vực diện tích 360 km². Trong thơ Metin Cengiz, nơi đây cái chết luôn được dựng lên như một bức tượng đồng, mà từ cửa sổ của tất cả các ngôi nhà trên mảnh đất này đều có thể nhìn ra trong sự bất lực: Lũ trẻ im lặng như những vị thánh, sùng đạo như những người đạo Hồi/ Chúng chờ đợi lệnh ngừng bắn/ Chúng sẽ lấp đầy những đấu trường/ và nắm lấy cái chết mà không nhớ tới sự đói khát (Gaza). Metin Cengiz cho bạn đọc hình dung đời sống con người vùng Trung Đông với đầy đủ sự nghiệt ngã khủng khiếp: Đêm qua/ Một đám mây đầy ong làm bầu trời tối sầm/ Một đám mây vo ve trở nên điên cuồng (Bí mật của bầy ong).

 

Xuyên suốt tập thơ của Metin Cengiz là khát vọng cháy bỏng hướng về một đời sống hòa bình, tự do và bình đẳng. Mặt trời trong giấc mơ tôi (Những chiếc lá mùa thu) - phải chăng đó là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ? Dù bất kỳ trong hoàn cảnh nào, những giấc mơ luôn tạo nên vẻ đẹp và nội lực mạnh mẽ trong thơ ông. Đó cũng chính là ngọn lửa từ trái tim ông truyền tới trái bạn đọc để họ thêm nghị lực vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt.

 

Tình yêu thương con người, yêu công lý và lẽ phải của Metin Cengiz, tựa như một dòng sông tự tìm cách đi qua màn đêm: Cứ chảy với những màu sắc rực rỡ của những giấc mơ (Tình yêu). Trong bài thơ “Đen và trắng”, ông nhìn thấy Cái đẹp của tình yêu phía sau chúng ta/ Bước ra khỏi bóng tối/ Như một ngọn đèn/ Xanh và đỏ/ Đỏ và xanh/ Chạm vào một câu chuyện cổ tích.

 

Hình ảnh “Em” hiện lên trong thơ ông không nhiều nhưng rất ảo huyền và quyết liệt, thậm chí “bạo liệt”: Tôi lướt nhìn em, - ánh mắt em, dáng người em/ giống như mưa/ Và tôi đập tan chính mình và màn mưa rơi mộng mị/ bám chặt lấy bóng dáng em (Cơn mưa). Những câu thơ cho thấy khí chất và nội lực thi sỹ của Metin Cengiz. Ông yêu như tan biến, như hóa thân, yêu để tái sinh và khơi nguồn sáng tạo…

 

Thơ Metin Cengiz kết hợp nhuần nhuyễn những tinh túy của thơ ca phương Đông với phương Tây. Đó là sự tinh tế trong lựa chọn hình ảnh, kiệm lời, viết như chớp lấy thần thái để làm nên những giá trị độc đáo trong tác phẩm. Bài thơ “Con trai tôi” là điển hình của lối kết hợp này:

 

Con trai tôi

 

Con trai tôi giống tôi tới một chặng đường dài

Và giống mẹ nó tới mặt đất

Tôi ở xa, trong tù

Mẹ nó dạy nó tập đi

 

Đây là lối viết thơ tối giản, gợi mà không tả, cố tình giấu đi cảm xúc, gần với tinh thần thơ Haiku (Nhật bản). Bốn câu thơ trong một bài thơ như bốn tảng đá lớn kê trong một khu vườn rộng. Mỗi tảng đá một hình thù, có nét đẹp gần như độc lập. Nhưng khi có bàn tay của “nghệ nhân” sắp đặt theo ý tưởng riêng, những viên đá ấy đã phát quang, tạo ra ánh sáng dẫn dụ người xem, mở rộng cho họ thêm nhiều chiều kích của tưởng tượng. Câu kết của bài thơ “Mẹ nó dạy nó tập đi” là một chuyển động bất ngờ và tất yếu của ba hình ảnh (chặng đường dài, mặt đất, nhà tù) tưởng như bất động trong những câu thơ trên. Tôi đặc biệt ấn tượng với câu thơ “Tôi ở xa”. Bằng câu thơ ấy, nhà thơ như kéo giãn kết nối không gian với hành động “tập đi” của con trai ông. Câu thơ khiến bạn đọc như nghe được từng bước chân lẫm chẫm của thế hệ tiếp nối đang đặt lên mặt đất, nhìn thấy cả khoảng cách giữa hai thế hệ, ông và con ông, trước những biến động khôn lường của đời sống đương thời.

 

Đọc xong bài thơ ngắn, độc đáo này, tôi muốn nói thêm đôi lời về Dịch giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân. Trong năm nay, Tuyết Ngân chuyển tới bạn đọc Việt Nam hai tập thơ của hai nhà thơ đương đại tiêu biểu nhất của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ, Metin Cengiz và Müesser Yeniay, tác giả tập thơ “Nghi lễ hái hoa hồng trong vườn/ The Rite of Picking Roses in the Garden”. Metin Cengiz sinh năm 1953, là nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học uy tín. Müesser Yeniay, sinh năm 1984, là nhà thơ tiền phong và tài năng. Hai tác giả thuộc hai thế hệ thơ của Thổ Nhĩ Kỳ. Mỗi nhà thơ mang một phong cách riêng biệt, nhưng cùng chung một cách thiết lập không gian đa chiều, đa tuyến tính, cùng áp dụng những tinh hoa của các khuynh hướng nghệ thuật Đông – Tây kết hợp có chọn lọc bản sắc văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ. Với trường hợp của nhà thơ Metin Cengiz và Müesser Yeniay, chúng ta có thêm những bài học quý giá về quá trình đổi mới, cách tân nghệ thuật, nhập cuộc với thế giới nhưng vẫn giữ được cốt cách sáng tạo và làm phong phú thêm bản sắc dân tộc mình.

 

Mỗi tập thơ, Nguyễn Thị Tuyết Ngân đều tìm được giọng điệu riêng của từng tác giả, dịch chuẩn xác và giàu biểu cảm, giữ được phong cách riêng biệt của từng nhà thơ. Đây thực sự là thành công lớn của một dịch giả trẻ tuổi (1989). Xin chúc mừng Nguyễn Thị Tuyết Ngân và chúc cô sớm có thêm những tác phẩm dịch mới như những món quà tinh thần đặc biệt để bạn đọc được thưởng thức.

 

10/2015

 

 

 

 

Dịch giả Hồ Liễu





The Pure Sun of Metin Cengiz

(On reading "The Pure Sun", a book of poems by Metin Cengiz, translated into Vietnamese by Nguyễn Thị Tuyết Ngân as "Mặt trời tinh khiết" in 2015)

 

  

 

Mai Văn Phấn

Translated by Hồ Liễu

 

 

 

 

“The Sun in my dream”

            Metin Cengiz

 

 

"The Pure Sun" is the title of a book of poems by Metin Cengiz, a poet from Turkey. Through the Vietnamese translation by Ms Nguyễn Thị Tuyết Ngân, this poetic work presents itself as a challenging code to those who until now have not escaped from the habit of living in darkness and ignorance. The concept of purity is a common and well-known one. But in this book of poetry, that concept is used as a metaphor for “the sun” and it is a signal to be decoded.  And the “key” to decoding these signs can be found in each poem which is profound, extremely exquisite, and full of mystery by Metin Cegiz.

 

Following “The Pure Sun,” I could see the reality of contemporary life, history, and the culture of Turkey appearing vividly on each poetic page of Metin Cengiz. Each fact, each point of view in that reality is projected by a particular light, adequate for our observation and imagination of a proliferous and deeply characteristic world of poetry. There are already so many poetic images to be used as metaphors for life, nature, and the universe, but the concept of a “pure sun” makes its appearance and existence up to the present only in the poetic world of Metin. That is the unique identity that Metin Cenghas created for his poetry, and through every poem, he leads the reader to his own pure world.

 

As in the poem “What the Time Makes us Say,” the poet partly reveals the secrets in that poetic world of coded words: “As if I am a hole made of doubt/ The winds inside me howls”. (‘What the time makes us say’). The poem compelled me to peep through the “hole” and I immediately felt like a child long imprisoned in darkness now seeing the brightness of a sunrise. I saw precious flowers and exotic plants never known previously to me but proliferating in the garden of poetry of Metin Cengiz. Those plants smile when being watered and they may bloom and bear fruit for eternity. A bird is wavering in flight, drops of water are burned on a hill, rain is making all things as immense as the sky. The reader feels a flow of clear and cool sensation: Child is flying with his happiness/ pigeon is flying with the happiness of child (‘A Story’).

 

In the world of Metin Cengiz we are told the story of the wind that knows how to rely on the bells to vibrate its desires and wishes: the story of the poet who everyday feels her destiny as an imaginary wound in the much suffering universe of a human being. Then we witness the poet’s heart that knows how to breathe as a forest on the edge of a vague abyss. Metin’s poetry spreads out profusely the data of life like a trap, laughter, a loaf of bread, or a half-burned cigarette on somebody’s fingers…. Ordinary, everyday life enters Metin’s poetry and is experienced by the reader; each poem comes to Metin quite naturally and easily, like we comb our hair to begin a new day.

 

Metin Cengiz shares a similarity with great poets of the world. He sets forth the answer for the way of destiny of his nation in his poems. This includes such complex problems as the war for territory, the contradictions of ethnics and religions, the miserable existence of poor people at the depths of society, of injustice and compassion, freedom and the loss of freedom. In the battle against evil, in the search for light in the middle of the darkness, Metin Cengiz has utilized and mobilized to the utmost the power and strength of poetry. Instead of using a gun, the poet pins on it primroses, but with the extraordinary force to defend liberty, justice, and fraternity in prevention of cruel and inhuman actions. He trembles with the heart of tolerance and benevolence of a mother at the news of the city of Baghdad being submerged in the fire and shootings of the war. The fires of hatred and division are killing human lives and destroying monuments and cultural enterprises of humanity many thousand years old – “Baghdad is as far as a beeline/ It is as far as a bird between two fires.” (‘Baghdad’). The compassionate lines of Cengiz’s poetry are like the lights lit up amidst the city of Baghdad submerged in the smoke of bombs and the darkness of blind nights where hospitals lack medicine and human beings are tortured by hunger and deep wounds in their bodies and souls. He describes the cruel months and years suffered by his nation like trains through a long tunnel day and night, resounding with the terrible hissing of steel and imaginary noises to the degree that even the wind felt it was removed from humans.

 

In a poem about Gaza, a narrow stretch of land along the Mediterranean Sea, Metin Cengiz depicts the existence that people must suffer in the furnace of the war between different ethnics and religions among nations competing ownership of land. This is the territory with the highest density of population on earth, with about 1.4 million inhabitants over an area of 360 square kilometers.  In Metin Cengiz’s poetry, death is raised up as a bronze statue which can be seen from the windows of all the houses on this land while the people look out, powerless.“Children singing on the lap of death/ Children are as silent as saints, as religious as Muslims/ They are waiting for the ceasefire/ They are going to fill all the arenas and embrace their deaths without keeping in mind the hunger”. (‘Gaza’).

 

Metin Cengiz allows the readers to embrace and understand the existence of people in the Middle East with all of its terrible harshness: “Last night/ A bee cloud darkened the sky/ A humming cloud gone mad” (‘Secret of the Bees’).

 

Throughout this collection is the burning thirst for a life of peace, liberty, and equality, The sun in my dream (‘The leaves of Fall’) which may be the poet’s manifesto for this book.  In any case, the most beautiful dreams take the form of a strong inner force in his poetry, which is also the flame from his heart given to the readers so that they may overcome all severe trials.

 

The love of human beings, of justice and right in Metin Cengiz is like a river finding its way, breaking through the night: “Running with beautiful colors of dreams” (‘Love’). In the poem ‘Black and White’ he sees “A beauty of love behind us/ Coming out from the dark/ Like a light/ Green and red/ Red and green/ Touching a fairy tale”.

 

The great love of fellow human beings appears in a number of poems through the voice of the character “you” – the lover. The image of “you” does not make numerous appearance in his poetry but it is very mysterious and moving resolutely, even “fiercely”: “I caught a glimpse of you – your glances, your body/ resembling rain/ And dashed myself into the dreamlike rainfall/ clung to your body” (‘The rain’). These strong lines of poetry show us the character and inner strength of poet Cengiz. His love is like a dissolution, a metamorphosis – he loves to be reborn and to open the source of creativity.

 

Metin Cengiz’s poetry carries the essence both of the West and the East. His poetic world is immensely broad and multifarious. The realities of life and society in his nation appear in that world as viewpoints, from which to open further dimensions of association. From which to show the singularities, specific and also different in his poetry. The philosophical and rational qualities in the poetry of Metin Cengiz give great masses and volumes, similar to broad strokes fiercely made with a palette knife on a canvas of a large-scale oil painting. But Metin Cengiz also combines in an ingenuous manner the essences of Oriental poetics. It is the sophistication in the selection of images, the conciseness of vocabulary, the writing as the seizure of the spirit to create unique values in the work. The opening poem ‘My Son’ is a typical example of this combination:

 

My Son

 

My son resembles me to a long way

And his mom to earth

I’m away, in prison

His mom taught him to walk.

 

This is minimalist poetry, suggesting without describing, trying to conceal the feelings, close to the spirit of the Japanese haiku gere. The four lines in the poem resemble the four rocks set up in a large garden. Each rock has its own shape, and a beauty almost independent. But when the “craftspersons’s hands arrange them according to their own ideas, those rocks radiate and give light to enchant the viewers, open to them many dimensions of imagination. The concluding line “His mom taught him to walk” is a sudden and necessary movement of the three images (a long way, earth, prison) apparently immobile in the three previous lines. I am particularly impressed by the phrase “I’m away”. Feeling that the poet seems to stretch the spatial connection to the act of being “taught to walk” of his son. The last line causes the readers somehow to hear the hesitating steps of the next generation on earth, to see the distance between the two generations, himself and his son, before the immesurable events of contemporary existence.

 

After reading this unique poem, I would like to add some words about translator Nguyễn Thị Tuyết Ngân. During this year of 2015, Ms Tuyết Ngân transmits to Vietnamese readers the translation of two complete works of poetry by two most representative poets of contemporary Turkey: Metin Cengiz and Müesser Yeniay, the author of the book of poems entitled The Rite of Picking Roses in the Garden/ Nghi lễ hái hoa hồng trong vườn. Metin Cengiz, born in 1953, is an authoritative poet, writer, literary theorist and critic. Müesser Yeniay, born in 1984, is a talented and avant-garde poet. These two authors belong to two generations of Turkish poetry. Each author has a specific style, but they share a common establishment of multidimentional, multilinear space; they both apply the essences of Eastern and Western trends in arts with a selective combination to the cultural identity of Turkey. Metin Cengiz’s poetry presents another case for us to study about the process of renovation: renewing the poetics but maintaining national identity.

 

For each book of poems, translator Nguyễn Thị Tuyết Ngân has found out the personal voice of each author, with an exact and richly expressive translation. That is truly a great success for a young translator (born in 1989). Congratulations to translator Nguyễn Thị Tuyết Ngân and I wish you many other translations just like these two special gifts now on your hands.

 

 

Hải Phòng, 5 October, 2015

M.V.P

 

 

 

 

 

 

NHÀ THƠ METİN CENGİZ

 

Metin Cengiz: nhà thơ,  nhà văn (sinh ngày 3 tháng 5 năm 1953 tại Gole). Ông học tại trường tiểu học Gole (1964), trường trung học Kars Alparslan (1972), và tốt nghiệp trường đại học Erzurum Ataturk, giảng dạy tại Khoa khoa học cơ bản và ngoại ngữ, ngành tiếng Pháp (1977). Trong những năm tại đại học, ông làm việc với tư cách cán bộ pháp lý tại viện dữ liệu Thổ Nhĩ Kỳ trong một thời gian ngắn (1973). Trong khi đó, ông hoàn thành nghiên cứu tại đại học Marmara, ngành tiếng Pháp.

 

Sau khi giảng dạy tại Mus, ông xin nghỉ để quay về Istanbul và bắt đầu công việc đọc và sửa chữa, biên tập và biên dịch tại một nhà xuất bản. Cụ thể là ông đã viết về các vấn đề của thi ca cho tạp chí Hurriyet Gosteri, Varlik và một vài báo khác. Ông hợp tác với một vài người bạn để thành lập nhà xuất bản Siirden vào năm 2005, với mục đích xuất bản thơ và các bài tiểu luận về học thuyết thi ca.

           

Ông được trao giải thi ca Behcet Necatigil vào năm 1966 với tác phẩm Sarkilar Kitabi (Cuốn sách của các bài hát), giải thi ca Melih Cevdet Anday vào năm 2010 với cuốn Butun Siirleri 1 (Tuyển tập thơ số 1), Butun Siirleri 2 (Tuyển tập thơ số 2), và giải thi ca quốc tế Tudor Arghezi năm 2011 tại Romanya. Ông là thành viên của Nghiệp đoàn các nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ, Hiệp hội các nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ PEN và hội các tác giả Thổ Nhĩ Kỳ. Tới năm 1014, ông được trao giải Văn học của thành phố Mersin, một trong các giải thưởng danh giá nhất Thổ Nhĩ Kỳ.

           

Thơ ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, bao gồm tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Ý, Bosnia, Nga, Romania, A-rập, Do Thái, Azerbaijan, Serbia, Kurd. Những bài thơ chọn lọc của ông được xuất bản trong tiếng Pháp với tựa đề Sau Cơn Bão Và Những Bài Thơ Khác (2006, Harmattan). Tạp chí Levant đăng 8 bài thơ của ông với bản gốc tiếng Thổ Nhĩ Kỳ với tựa đề Đi-văng (2009). Tại Romania thơ ông được xuất bản trên các tạp chí Convorbiri Literare và Poesia (2011). Ông đã biên tập tuyển tập Cagdas 17 Turk Sairi và được xuất bản với nhà xuất bản Harmattan (2009). Ông đã cùng biên tập tuyển tập Cagdas Turk Siiri (tuyển tập thơ ca đương đại Thổ Nhĩ Kỳ) với Jaime B. Rosa, và được xuất bản tại Spany (2013). Cuối cùng, ông cũng cùng biên tập tuyển tập thơ Thổ Nhĩ Kỳ - Ý với tựa đề "Como Cerchi Sull'acqua/ Suda Halkalar Gibisin" với Vito Intini và được xuất bản tại Ý năm 2014. Ông đã tổ chức một vài liên hoan quốc tế tại Yalova, Canakkale và Nicosia. Hiện tại ông đang cố vấn liên hoan thơ quốc tế Eskisehir và chuẩn bị tổ chức liene hoan thơ quốc tế Kartal. Ông đã tham gia  nhiều liên hoan thơ và hội nghị chuyên đề.

           

Thơ ông được lợi từ các giá trị truyền thống bằng việc thách thức nó, phản ánh thực tế của thế giới đương đại và tìm cách trau chuốt nó với chiều sâu của thực tế cuộc sống khi được phản ánh từ thế giới bên trong của ông. Được biết đến với  những bài viết về thi ca từ những năm đầu, nhà thơ trở thành một trong những người tiên phong của thời kỳ sau 1980, với những bài viết về học thuyết và thảo luận về thơ ca.

 

Các tác phẩm:

 

Thơ: Bir Tufan Sonrasi (Sau Trận Lụt, 1988), Büyük Sevişme (Tình Yêu Lớn, 1980), Zehirinde Açan Zambak (Bông Huệ Nở Trong Chính Chất Độc Của Mình, 1991), İpek’a (Gửi Ipek, 1993), Şarkılar Kitabı (Cuốn Sách Của Những Bài Hát, 1995), Gençlik Çağı (Những Năm Tháng Tuổi Trẻ, 1998), Aşk İlahileri&Günümüze Hüzzamlar (Thần Tình Yêu và Những Sáng Tác Huzzam Ngày Nay, 2005), Özgürlük Şiirleri (Thi Ca Của Sự Tự Do, 2008), Bütün Şiirleri 2 (tuyển tập thơ số 2, 2010), İmgeler Benim Yurdum (Những Hình Ảnh Là Quê Nhà Tôi, 2011), Yeryüzü Halleri (Các Quốc Gia Trên Thế Giới, 2013).

 

Tiểu Luận - Phê Bình - Nghiên Cứu: Şiirin Gücü (Sức Mạnh Của Thi Ca, 1993, tái bản 2006), 1923-1953 Toplumcu Gerçekçi Şiir (Thơ Ca Xã Hội - Thực Tế những năm 1923-1953, 2000), Modernleşme ve Modern Şiirimiz (Chủ Nghĩa Đương Đại và Thơ Ca Đương Đại, 2002), Şiir, Din ve Cinsellik (Thơ Ca, Tôn Giáo và Tính Dục, 2005), Nâzım’dan 70’li Yıllara Türk Şiirine Eleştirel Bir Bakış (Một Tiểu Luận Phê Bình Về Thơ Ca Thổ Nhĩ Kỳ Từ Thời Nazim Tới Những Năm 70, 2005), Şiir, Biçim, Biçem, Şiirin Teorik Sorunları (Thơ Ca, Khuôn Khổ, Phong Cách - Những Vấn Đề Học Thuyết Của Thơ Ca, 2005), Şiir, Dil, Şiir Dili ve Şiirsel Anlam (Thơ Ca, Ngôn Ngữ, Ngôn Từ và Ý Nghĩa Của Thơ Ca, 2006), Küreselleşme, Postmodernizm ve Edebiyat (Toàn Cầu Hóa, Sau Hiện Đại Hóa, và Văn Học, 2007), İmge Nedir? (Hình Tượng Là Gì), Kültür ve Şiir (Văn Hóa và Thơ Ca, 2010), Felsefe ve Şiir  (Triết Học và Thơ Ca, 2010), Naim Araidi (Một Ngày Hội Của Nỗi Đau, 2010), Şiire ve Hayata Dair Denemeler (Tiểu Luận Về Thơ Ca và Cuộc Sống, 2011), Gerard Augustin (Thơ Chọn Lọc, cùng với Eray Canberk, Başak Aydınalp, Müesser Yeniay, 2011), Michel Cassir (Học Thuyết Cá Nhân, cùng với Eray Canberk, Müesser Yeniay ile, 2011), Thơ Cemal Sureya (2012), Ý Tưởng Thơ Ca Của Plato và Aristotle (2012), Tahar Bekri (Những Giấc Mơ Nóng Vội, cùng với Medine Sivri, 2012), Cách Làm Thơ (2013), Çağdaş İspanyol Şiiri Antolojisi (Học Thuyết Thơ Ca Tây Ban Nha Đương Đại, với Müesser Yeniay, 2013), Các Vấn Đề Biển Cả (dịch từ Jaime B. Rosa, 2014).

 

Phỏng Vấn: Hayat, Edebiyat, Siyaset-Ahmet Oktay ile Dünden Bugüne (Đời Sống, Văn Học, Chính Trị - với Ahmet Oktay từ Hôm Qua tới Ngày Nay, 2005).

 

 

 

 

POET METİN CENGİZ

 

Metin  Cengiz: poet and writer (b. 3 May 1953, Göle). He attended to Göle primary School (1964), Kars Alparslan High School (1972), and graduated from Erzurum Atatürk University, Faculty of Basic Sciences and Foreign Languages, Department of French (1977). During his years at the university, he worked as a civil officer at the Turkish Statistical Institute for a short time (1973). Meanwhile, he completed his studies at Marmara University, Department of French.

          

After working as a teacher in Muş, he resigned from his duty, returned back to İstanbul and began to work as a proofreader, editor and translator at publishing houses.  He wrote particularly on the problems of poetry in the  reviews Hurriyet Gösteri, Varlık and in various newspapers. He established the Şiirden Publishing House in 2005, in collaboration with his friends, to publish poems and essays concerning poetry theory.

          

He won the Behçet Necatigil Poetry Award in 1966 with his book Şarkılar Kitabı (The Book of Songs), Melih Cevdet Anday Poetry Award in 2010 with his book Bütün Şiirleri 1 (Collected poems 1), Bütün Şiirleri 2 (collected poems 2) and Tudor Arghezi İnternational Poetry Award  in 2011 (Romanya). By 2014, the city of Mersin in Turkey's most prestigious award received the Prize for Literature. He is a member of Writers Syndicate of Turkey, the Association of Turkish PEN Writers and the Turkish Authors Association. In 2014, he is received the Literature Prize of the city of Mersin, one of Turkey's most prestigious award.

           

His poems are translated into several languages such as French, English, German, Indu, Spanish, Italian, Bosnian, Russian, Romanian, Arabic, Hebrew, Azerbaijani, Serbian, and Kurdish. His selected poems are published in French with the title Apres le Tempete et Autres Poemes (2006, Harmattan). Levant Magazine published his eight poems along with their Turkish under the title "Divan" (2009). In Romania his poems are published in magazines Convorbiri Literare and Poesia (2011). He edited the Anthology titled Çağdaş 17 Türk Şairi is published by Harmattan Publishing (2009). He co-editted the Antology Çağdaş Türk Şiiri Antolojisi (Antology of Contemporary Turkish Poetry) with Jaime B. Rosa, which is also punlished in Spany (2013). Finally he also co-edited the Turkish-Italian poets Anthology titled “"Como Cerchi Sull'acqua/ Suda Halkalar Gibisin" (published in Italy, 2014) with Vito Intini.  He organized several international festivals in Yalova, Çanakkale and Nicosia. Now he has been advising Eskişehir International Poetry Festival and now he is organizers of the International  Kartal Poetry Festival. He attended numerous International festivals and symposiums.

          

His poetry benefits from tradition by challenging it, reflects the realities of the modern world and tries to elaborate them in dept with the realities of life as reflected from his internal world. Being known with his articles on poetry in his early period, the poet has become one of the pioneers of the period after 1980, with his theoretical articles and discussions on poetry.

           

WORKS:

           

POETRY: Bir Tufan Sonrası (After A Deluge, 1988), Büyük Sevişme (The Great Love, 1980), Zehirinde Açan Zambak (The Lilly that Bloom in its Poison, 1991), İpek’a (To İpek, 1993), Şarkılar Kitabı (The Books of Songs, 1995), Gençlik Çağı (Juvenille Years, 1998), Aşk İlahileri&Günümüze Hüzzamlar (Hymnes Of Love &The Hüzzam Compositions Today, 2005), Özgürlük Şiirleri (poems of freedom, 2008), Bütün Şiirleri 1 (Collected poems 1, 2008)), Bütün Şiirleri 2 (Collected poems 2, 2010); İmgeler Benim Yurdum (2011) (Images are my home); Yeryüzü Halleri (States of the world, 2013).

           

ESSAY-CRITICISM-STUDY: Şiirin Gücü (The Pover of Poetry, 1993; second edition 2006), 1923-1953 Toplumcu Gerçekçi Şiir (The Socialist-Realist Poetry between 1923-1953, 2000), Modernleşme ve Modern Şiirimiz (Modernism and Our Modern Poery, 2002), Şiir, Din ve Cinsellik (Poetry, Religion and Sexuality, 2005), Nâzım’dan 70’li Yıllara Türk Şiirine Eleştirel Bir Bakış (A Critical Essay on Turkish Poetry from Nâzım to 70’s, 2005), Şiir, Biçim, Biçem, Şiirin Teorik Sorunları (The Poetry, Forme, Style –Theoretical Problems of Poetry, 2005), Şiir, Dil, Şiir Dili ve Şiirsel Anlam (Poetry, Language, Language of Poetry and Poetic Meaning, 2006), Küreselleşme, Postmodernizm ve Edebiyat (Globalisation, Postmodernism and Literature, 2007), İmge Nedir? (What is image?), Kültür ve Şiir (Culture and poetry, 2010), Felsefe ve Şiir (Philosophy and poetry, 2010), Naim Araidi/A Festival for Grief (2010), Şiire ve Hayata Dair Denemeler (2011) (Essays on Poetry and Life), Gerard Augustin/Selected Poetry (with Eray Canberk, Başak Aydınalp, Müesser Yeniay 2011), Michel Cassir/Personal Anthology (with Eray Canberk, Müesser Yeniay ile, 2011), Cemal Sureya poetry (2012), Thought  of poetry in Plato and Aristotle (2012), Tahar Bekri/Impatient Dreams (with Medine Sivri, 2012), How to Write Poetry (2013), Çağdaş İspanyol Şiiri Antolojisi/Contemporary Spanish Poetry Anthology  (with Müesser Yeniay, 2013), Sea Poems (Jaime B. Rosa, translation, 2014).

           

INTERWIEW: Hayat, Edebiyat, Siyaset-Ahmet Oktay ile Dünden Bugüne (Life, Literature, Politics – with Ahmet Oktay from Yesterday to Today, 2005).

 

 

 

 

 



Bìa tập 1 và 4 tậ
p thơ “Mặt trời tinh khiết / The Pure Sun”

Tranh bìa 1 của Nguyễn Quang Thiều. Thiết kế: Lê Đức Lợi

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 






















Thiết kế bởi VNPT Hải Phòng | Quản trị