Tính khách quan trong thơ Nguyễn Thị Hải (phê bình) - Mai Văn Phấn

Tính khách quan trong thơ Nguyễn Thị Hải

 

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Hải

 

 

Mai Văn Phấn

 

Tôi nhớ có lần đàm đạo cùng nhà thơ, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn trong một quán trà ở Hải Phòng. Ông hỏi, liệu có thể chọn một từ để gọi ra bản chất của thơ cách tân hiện nay không? Tôi đáp nhanh: Khách quan. Tiếp đó tôi có đọc cho ông nghe thơ của một vài tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng này để minh chứng cho lựa chọn của mình. Câu chuyện hôm đó hầu như chưa đi đến hồi kết, và nó luôn làm tôi trăn trở tới tận hôm nay và chắc còn đến mãi sau này. Rồi tình cờ, tôi đọc được thơ Nguyễn Thị Hải trên một số website và mạng xã hội. Mới lướt nhanh đôi bài, tôi đã bị cuốn hút bởi lối thơ dung dị, khách quan, đầy ắp những cảm thức về làng quê Việt xưa và nay. Sau đấy, tôi may mắn có được hai tập thơ của chị: "Con cừu của hoàng tử bé, cổng ngõ của tôi" (NXB Đà Nẵng, 2017) và "Một dòng tiểu sử của bạn tôi" (NXB Đà Nẵng, 2018). Hai tập thơ này của Nguyễn Thị Hải là một minh chứng thuyết phục về tính khách quan của thơ cách tân, khiến tôi những mong gặp lại Đỗ Minh Tuấn để tiếp tục luận bàn câu chuyện thơ hôm nào.

 

Xin trích dẫn một bài thơ của Nguyễn Thị Hải, mà tôi cho rằng cả tiêu đề bài thơ và nội dung sau đây là một tuyên ngôn về phong cách thơ của tác giả này. Ở đây, phải chăng thơ là sự hiện hữu tự thân. Nhờ thi pháp mà thơ được trình hiện, nhưng chính thơ lại mang ý thức chối từ tất cả mọi thi pháp, thủ pháp, chối từ cả những biện pháp tu từ, ẩn dụ quanh nó.

 

Sao không viết tựa đề là hoa nhài

Rồi cả bài thơ chỉ nói về hoa bưởi

Sao không viết tựa đề là sông thu

Rồi cả bài thơ chỉ kể về ngọn núi

 

Từ tựa đề đến bài thơ

Là khoảng cách từ khóm hoa nhài đến cây hoa bưởi

Từ dòng sông mùa thu đến ngọn núi mùa xuân

Thơ sẽ đến bên ta làm một bạn đồng hành

(Bạn đồng hành)

 

Nhớ lại cuộc cách mạng Thơ Mới những năm 1932-1945, cùng với sự bùng nổ ngôn từ, làm nở rộ cái tôi cá nhân, một cái tôi chủ quan mang tính cao ngạo của nghệ sĩ, chi phối đối tượng được phản ánh. "Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất" (Xuân Diệu). Từ đỉnh "Thứ Nhất" ấy, cái tôi trong thơ Việt đã thay đổi, biến thành cái ta trong thơ kháng chiến, để rồi trở lại thành cái tôi khác biệt như bây giờ. Nếu khởi đầu Thơ Mới là cái tôi chủ quan, thì trong thơ cách tân hiện nay là cái tôi khách quan, mang tinh thần nhân văn, sự thức tỉnh ý thức cá nhân trong không-thời-gian đa chiều. Cái tôi khách quan hiện được thể hiện khá phong phú và đa sắc thái trong thơ Việt đương đại, nó có thể đứng độc lập hay lấn át ý thức chủ quan của người viết.

 

Vậy khuynh hướng khách quan hình thành và phát triển trong thi ca như thế nào và nó ảnh hưởng đến các tác giả thơ cách tân ra sao?

 

Chủ nghĩa khách quan khởi đầu được William Carlos Williams (1883 - 1963) đặt ra vào năm 1930 và được phát triển dựa trên lý giải của ông về tác phẩm “Khoa học và Thế giới hiện đại” (Science and the Modern World[1]) của Alfred North Whitehead (1861 - 1947). Williams mô tả chủ nghĩa khách quan là xem xét một bài thơ “bằng con mắt đặc biệt hướng đến mặt cấu trúc của nó, cách nó được hình thành ra sao”. Những người theo chủ nghĩa khách quan là một nhóm liên kết không ràng buộc gồm các nhà thơ Hoa Kỳ và Anh, gồm Louis Zukofsky (1904 - 1978), Charles Reznikoff (1894 - 1976), George Oppen (1908 - 1984), Carl Rakosi (1903 - 2004), Lorine Niedecker (1903 - 1970) và nhà thơ người Anh Basil Bunting (1900 - 1985). Họ chủ trương đề cao tính ưu việt và sự cần thiết phải thể hiện chính xác đối tượng được biểu đạt mà không bị sự tưởng tượng và cảm xúc của nhà thơ che khuất. Louis Zukofsky trong tiểu luận "Những người theo chủ nghĩa khách quan" (Objectivists[2]) đã nhấn mạnh đến "Tính chân thực và Sự thể hiện khách quan" (Sincerity and Objectification) đối tượng được biểu đạt. Ông coi bài thơ như một đối tượng và nhấn mạnh tính chân thực, không thơ mộng hóa, mà thể hiện khả năng quan sát thế giới một cách tường minh, xác thực nhất có thể. Mặc dù trào lưu  này không nhận được nhiều sự quan tâm của giới phê bình trong thập niên 1940 và 1950, nhưng vào thập kỷ 1960 các nhóm nhà thơ trẻ ở Hoa Kỳ và Anh lại “tái khám phá” những nhà thơ theo chủ nghĩa khách quan. Các nhà thơ theo chủ nghĩa khách quan đã có ảnh hưởng đến Thời kỳ Phục hưng San Francisco[3] thập kỷ 1950, các nhà thơ trào lưu Thế hệ Beat[4], Thơ Ngôn ngữ và các nhà thơ  trường phái Black Mountain[5]. Đến cuối thế kỷ XX trào lưu khách quan hóa trong thơ có lắng xuống, nhưng những năm gần đây, nhiều nhà thơ, nhà phê bình văn học Âu-Mỹ lại tiếp tục bàn luận sôi nổi về vấn đề này. Năm 2020, nhà thơ người người Canada Cynthia Buell Thomas (mời đọc thơ của bà ở link bên dưới[6]) đã nêu ba đặc điểm về tính khách quan trong thơ đương đại trong bài "Tính khách quan trong thơ - định nghĩa nó như thế nào?" (Objectivity in poetry - how to define it?): 1) Thơ cần thoát khỏi tình cảm, thái độ hay cảm xúc cá nhân của nhà thơ; 2) Là một mẫu hình của khách thể, những hành động, sự kiện hoặc một tình huống có thể thực sự đánh thức được phản ứng tình cảm tác giả mong muốn mà không phải là một tuyên ngôn trực tiếp về cảm xúc đó; 3) Là một bài thơ có ý nghĩa nhất như một khách thể trong bản thể của nó, không phụ thuộc vào các thực tế của bố cục, vào hoạt động mà nó mô phỏng, vào ý định đã nói rõ của tác giả, hoặc vào tác động mà nó tạo ra đối với người đọc/ khán giả[7]".

 

Tính khách quan vốn được hình thành trong sự vận động và phát triển của những sự vật, hiện tượng, nó diễn ra theo quy luật có sẵn, không bị ảnh hưởng bởi niềm tin hoặc cảm xúc cá nhân của con người. Trong văn học truyền thống nói chung, tính khách quan chủ yếu được đề cao trong tiếp nhận văn bản, nó ít được nhắc tới trong quá trình sáng tác. Hiện thực trong các tác phẩm văn học truyền thống thường mang tính chủ quan, được khúc xạ từ thế giới khách quan qua lăng kính của nhà văn. Khi tiếp nhận những tác phẩm viết theo phong cách truyền thống, độc giả như nhìn rõ dấu vân tay, dễ dàng cảm nhận được quan điểm thẩm mĩ, thái độ của nhà văn với đối tượng được biểu đạt.

 

Từ thời điểm Đổi mới (1986) ở Việt Nam, một số nhà thơ theo khuynh hướng cách tân đã vận dụng một số thi pháp mới, trong những thi pháp đó nổi bật lên tính khách quan, dù là ý thức hay vô thức. Những câu thơ như "Nước vẫn chảy trong đó/ Cây vẫn mọc lên/ Lửa không bao giờ tắt" trong bài thơ "Bình gốm" của Nguyễn Quang Thiều; hay câu thơ "Cách nhau một giọt nước/ sông Hồng nối nhau trôi thật mềm/ cô gái mờ mờ sáng" (Đêm ven sông) của Nguyễn Bình Phương là những ví dụ cho tính khách quan trong thơ đương đại.

 

Trở lại với Nguyễn Thị Hải, thơ chị cho thấy cái tôi khách quan được thể hiện độc lập, rõ nét. Chị không chủ ý đồng hóa, chinh phục, hay hóa thân vào đối tượng được phản ánh, mà bày đặt, khơi gợi cho nó xuất hiện chân thật, sống động nhất có thể, trả mọi thứ về bản chất tự nhiên như nhiên của chính nó. Đây là tâm trạng của người đàn bà mang thai lần thứ năm khi ngửi thấy mùi hoa hòe bay vào cửa sổ:

 

Trút hết cùng hoa hòe

Hoa hòe cũng trút cạn

Bầu hương nồng sẻ chia

Hoa trắng xanh nhợt nhạt

(Con trai)

 

Mối liên hệ giữa người đàn bà và những bông hoa hòe là sự thương cảm, thấu hiểu và sẻ chia cho nhau. Hai nhân vật trong bài thơ như muốn tìm đến nhau và vươn ra bên ngoài. Tuy vậy, người đọc vẫn nhìn thấy giữa họ là khoảng cách qua một khung cửa sổ. Sự bí ẩn đầy hấp dẫn của thơ Nguyễn Thị Hải nằm ở những khoảng cách như thế này. Nó là độ dài và thời gian để tạm đo nỗi niềm, những trăn trở của người đàn bà kia. Khoảng cách ấy cũng chính là hành trình của cảm xúc, của tưởng tượng mà tác giả chủ ý để ngỏ cho bạn đọc.

 

Tương tự cách lập tứ nêu trên, bài thơ "Một dòng tiểu sử của bạn tôi" lại đặt bày mối quan hệ giữa "bà nội" và "nước". Bà là người khiếm thính đã mấy chục năm và hầu như không thể giao tiếp với những người xung quanh. Tác giả đã cho người bà và nước tương thông từ hai thế giới cách biệt nhưng chứa chan những điều kỳ tuyệt.

 

Bà chỉ thích trò chuyện với nước