Mai Văn Phấn và cách ứng xử tử tế với văn chương – Mai Thị Liên Giang
Mai Văn Phấn và cách ứng
xử tử tế với văn chương

TS. Mai Thị Liên Giang
Mai Thị Liên Giang
Viết
phê bình đôi khi cũng được xem như một kiểu bù đắp của nghệ sĩ ở đời sống tinh
thần. Nhà phê bình có khi cũng phải tìm cách hóa thân vào đời sống tinh thần
của những nhà thơ khác khi trải qua các trạng huống, chi tiết nghệ thuật, trạng
thái cảm xúc xuất hiện trong văn bản. Như là một nghệ sĩ, Mai Văn Phấn đã tự
nguyện đặt mình vào vai một cố vấn đắc lực cho độc giả trong việc lựa chọn đối
tượng đọc thời hiện đại.
Đọc
phê bình Mai Văn Phấn, người đọc được hiểu thêm thế giới sống trong thơ Minh
Anh, Pháp Hoan, Đinh Trần Phương, Trần Tuấn, Nguyễn Đình Di, Trần Xuân Trường;
ranh giới thơ trong thơ Hàm Anh, Hoài Khánh, Nguyễn Phan Hách; tình yêu thương
con người trong thơ Nguyễn Thị Thùy Linh, Nguyễn Thúy Ngoan, Văn Đắc, Trần
Hùng; tính độc đáo trong thơ Nguyễn Thị Hải, Giáng Vân. Và đặc biệt nữa là sự
kết nối thế giới tâm hồn yêu thương của tác giả đối với một số nhà thơ đương
đại ở các nước Nga, Hungary, Serbia, Hàn Quốc, Cuba, Uzbekistan... Một số bài
viết thể hiện quan điểm sáng tác thơ, quan điểm về thơ hay, về căn tính dân tộc
và toàn cầu hóa trong sáng tác văn học, quan điểm về việc viết, việc xuất bản
sách, quan điểm phê bình... của ông cũng được tập hợp ở đây. Cách viết của ông
như là những suy tư về thơ, về giá trị thực của thơ quyện với niềm mong mỏi
được góp một phần nhỏ trong hành trình lấp dần khoảng trống sâu thẳm giữa người
đọc với các nhà thơ thời nay. Như cách ông trăn trở: “Viết có thể thay đổi thế
giới” [tr.347]. Nhiều phát ngôn của ông trong phê bình thơ thể hiện rõ thông
điệp muốn hướng người đọc đến những điểm vừa mắt của tác phẩm, hạn chế tối đa
những câu viết phê bình theo kiểu phê phán, chỉ trích. Nếu trong văn bản có lúc
này lúc kia, thì người đọc cần biết nhìn về phía thiện chí của tác giả. Mai Văn
Phấn thừa biết, bất cứ ở lĩnh vực nghệ thuật nào trong thế giới sáng tạo vì con
người thì cũng có “gót chân Asin”. Không phải tất cả các tác phẩm của một tác
giả đều được bạn đọc đón nhận, thậm chí ngay trong mỗi tác phẩm vẫn khó đạt đến
sự đáp ứng hoàn hảo 100%. Chính vì vậy, nhà phê bình cố gắng để nhìn vào phía
tốt đẹp để tìm ra được giá trị hữu ích của tác phẩm chuyển tải đến người đọc,
kiểu như xem một trận bóng đá chung kết. Các đội vô địch không phải lúc nào
cũng có 100% cú sút như ý. Tuy nhiên, kết quả chung cuộc đọng lại trong tâm trí
khán giả vẫn là số bàn thắng, giá trị cuối cùng của mỗi cuộc chơi. Mai Văn Phấn
có cách dẫn dụ người đọc vào lối xem tập trung vào các tâm đẹp của tác phẩm, từ
đó có cái nhìn tổng thể giá trị của tác phẩm cũng như sự nỗ lực đáng trân trọng
của các nhà thơ ông có dịp tiếp xúc. Trên thế giới cũng đã có một số nhà phê
bình thành công theo lối viết này như Charles Baudelaire, Marcel Proust... Một
số nhà phê bình ở Việt Nam thành công theo lối viết này như Hoài Thanh, Hoài
Chân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... Nhịp
điệu vẽ lối đi[1] của Mai Văn Phấn như vậy đã là một phương cách sáng tạo riêng
của ông cùng trong hành trình vào thế giới thơ.
1. Phê bình của Mai Văn Phấn như ngầm tuân
thủ một hệ thống nguyên tắc đạo đức, đó là đạo đức của nhà thơ, của nhà phê
bình. Chính cách ông lựa chọn tác giả, đặt vấn đề nghiên cứu theo đặc thù của
mỗi nhà thơ, phát triển mạnh cảm xúc trực giác và liên tưởng, tưởng tượng liên
kết thông qua hệ thống chi tiết văn bản cho thấy phê bình của Mai Văn Phấn có
đặc thù riêng. Đặc thù của đạo đức nhà thơ và trí tưởng tượng sáng tạo liên
hoàn. Kiểu “dây chuyền” tưởng tượng, tưởng tượng của tưởng tượng, thông qua văn
bản. Đây cũng là cách mà các nhà phê bình chuyên nghiệp khó có được khi họ buộc
phải nương mình hoặc tuân theo những lý thuyết gò bó hoặc quy tắc ngặt nghèo
của các lý thuyết, hoặc chủ trương của một nhóm lý thuyết, hay một nền văn hóa
cụ thể... Nhìn chung, văn bản phê bình của Mai Văn Phấn thường gợi thêm một
hoặc hơn một hành động tích cực khác được gợi ra tiếp sau quá trình đọc. Đó có
thể là một gợi ý, hoặc một suy nghĩ tích cực, hoặc một hình ảnh tương tự đẹp
hơn, hoặc rõ hơn, hoặc một tâm tư của riêng Mai Văn Phấn. Vì vậy, câu văn phê
bình của Mai Văn Phấn mang tính cảm xúc khá lớn. Kiểu như khi đọc câu thơ của
Nguyễn Đình Di: Tôi lạy hoa trặc trìu đừng thơm day dứt nữa/ Anh sẽ nói được
lời chưa kịp nói em nghe/ Trong hương trặc trìu tóc bạc đã như mê (Hoa trặc
trìu).
Mai
Văn Phấn nói: “Tôi đã cất công đi tìm loại hoa trặc trìu này” [tr.65]. Hóa ra
đây là loài hoa “cảm xúc”... Kiểu liên tưởng xâu chuỗi theo mạch cảm xúc: Hình
ảnh 1 - Văn bản 1 - Hình ảnh 2 - Văn bản 2 - Hình ảnh 3 - Văn bản 3 thường xuất
hiện trong phê bình của Mai Văn Phấn khi ông có dùng phép liên tưởng trong phê
bình. Vì vậy, dạng đoạn văn kết cấu kiểu song song trong các bài viết của Mai
Văn Phấn như thế này khá nhiều. Cách kết nối cảm xúc liên hoàn từ chi tiết này
sang chi tiết khác giữa các đoạn khi ông khảo sát cùng một tác giả dễ truyền
thông tin nhanh, dễ làm lay động cảm xúc người đọc. Ông cũng đã khẳng định:
“Tôi quan niệm, một người cầm bút không có những tác phẩm lay động lòng người,
không ảnh hưởng tới cộng đồng, tức là anh ta vẫn im lặng” [tr.349]. Từ quan
niệm về đạo đức của người phê bình, các bài viết của ông vì thế mang tính thẩm
tra rõ rệt. Nhìn tổng thể, tính thẩm tra cũng là một biểu hiện được thể hiện rõ
trong phê bình của Mai Văn Phấn. Trong các bài viết, ông luôn tuân thủ theo sự
thật văn bản tuyệt đối nhưng mặt khác, tác giả biết lựa chọn thông tin nổi bật,
tinh gọn, làm rõ phong cách đặc thù theo từng tác giả và trình bày lại cho
người đọc (người nghe) một cách phù hợp nhất. Kiểu ông cất công đi tìm một loài
hoa xuất hiện, hoặc một âm thanh, một hình ảnh, một chi tiết nghệ thuật... như
đã nói trên trong thơ cho thấy một tư duy phê bình khoa học kết hợp với phê
bình trực giác khá thú vị trong nghiên cứu phê bình của Mai Văn Phấn. Liên
tưởng đến một thế giới thứ hai sau thế giới của con chữ trong bài thơ, thế giới
tưởng tượng của thế giới tâm tưởng, nhà phê bình nhờ vậy mà được giàu có thêm
từ một đời sống mới. Đây cũng là cách sống, là sự lựa chọn của nhiều nhà phê
bình khoa học. Họ, xét đến cùng cũng là người phải biết cách học riêng để viết
lại bài cuộc đời mình. Bằng cách này, nhà phê bình chạm đến được sự tự do trong
thế giới tâm hồn. Đây cũng là cách để tăng thêm nguồn lực tinh thần sáng tạo
cho tác giả, đồng thời “khiêu khích” người đọc sau tiếp tục bước vào thế giới
của cả hai đối tượng: nhà thơ, nhà phê bình. Mai Văn Phấn cũng tự thấy mình
xuất hiện rất rõ trong quá trình đó, ông đã từng diễn đạt một cách khiêm tốn:
“Tôi cũng có câu thơ ở trạng thái tương tự, nhưng đi ngược với chuyển dịch của
thi sĩ của Hàm Anh... Nhưng câu thơ của tôi mới châm dây cháy chậm, còn khổ thơ
kết bài của Hàm Anh đã chạm “điểm nổ” [tr.82].
Tuân
thủ tính thẩm tra cũng là một nguyên tắc đạo đức riêng của Mai Văn Phấn trong
nghiên cứu phê bình thơ hiện đại. Điều này được thể hiện rõ trong quá trình lựa
chọn, tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Phê bình văn học không chỉ là sự đánh giá
mà còn là hành vi giao tiếp giữa nhà phê bình, tác giả, và độc giả. Vì vậy, đạo
đức trong phê bình thể hiện ở sự tôn trọng tác giả, tránh chỉ trích nặng nề
hoặc áp đặt quan điểm cá nhân của người phê bình. Phê bình của Mai Văn Phấn vì
thế hướng đến việc khám phá giá trị tốt đẹp trong tác phẩm, tạo cơ hội để tác
giả và độc giả cùng nhìn nhận sâu hơn về tác phẩm, thay vì phủ định hay làm tổn
thương giá trị sáng tạo. Mặt khác, từ góc nhìn này, phê bình còn cần được xem
như một hình thức khai sáng. Đạo đức phê bình nằm ở việc hướng độc giả đến sự
thật trong văn học, giúp họ nhìn nhận sâu sắc hơn về các khía cạnh văn hóa,
lịch sử, triết học trong tác phẩm. Mai Văn Phấn đã biết cách mở ra một thế giới
tưởng tượng từ tác phẩm, dẫn dắt độc giả khám phá những giá trị mới từ văn bản.
Hơn nữa phê bình phải hướng đến việc hỗ trợ tác giả sáng tạo. Một nhà phê bình
có đạo đức không chỉ đánh giá tác phẩm mà còn có trách nhiệm hỗ trợ tác giả
trong hành trình sáng tạo, gợi ý sáng tạo tiếp theo hoặc mở rộng ý tưởng qua
văn bản. Mai Văn Phấn thường kết nối các hình ảnh trong tác phẩm với những trải
nghiệm cá nhân hoặc liên hệ thực tế để gợi ý cho tác giả những chiều sâu mới
hơn trong tác phẩm. Thiết lập đạo đức trong phê bình cũng là cách để người tiếp nhận tránh các xu hướng phê
bình tiêu cực, hạn chế tối đa các dạng phê bình cay nghiệt, thiên kiến hoặc
mang tính phá hoại. Mai Văn Phấn vì vậy luôn giữ tinh thần đồng hành cùng sáng
tạo với nhà thơ. Trong bối cảnh văn học toàn cầu hóa, phê bình cần có đạo đức
khi tiếp cận các nền văn hóa khác nhau, tránh áp đặt tiêu chuẩn một cá nhân
hoặc một quốc gia riêng lên đối tượng cụ thể. Mai Văn Phấn, qua các tác phẩm
phê bình về văn học quốc tế, đã tỏ rõ tinh thần tôn trọng và học hỏi từ các nhà
thơ nước ngoài, đồng thời chỉ ra điểm giao thoa văn hóa, điểm kết nối cần học
hỏi của các tác giả nước ngoài với Việt Nam.
2. Đạo đức trong phê bình thường và phải
đi kèm với sự thật. Vấn đề này đặt ra cho chúng ta nhiều suy nghĩ về phê bình ở
Việt Nam hiện nay, trong đó có phê bình của Mai Văn Phấn. Sự thật, trong đời
sống văn chương, dễ gì nói hết, trong phê bình càng khó diễn đạt! Tôn trọng sự
thật là một nguyên tắc rất cần được tuân thủ trong quá trình nghiên cứu, phê
bình tác phẩm. Tất nhiên sự thật ở đây là sự thật của nghệ thuật sáng tạo. Sự
thật trong phê bình xét đến cùng chính là phẩm chất trung thực và khách quan.
Nhà phê bình cần giữ vai trò trung gian, không thiên vị hoặc bị chi phối bởi
định kiến cá nhân, ý thức hệ, hoặc áp lực xã hội. Điều thú vị trong phê bình
tiểu luận của Mai Văn Phấn là khả năng hiển lộ sự thật, phong cách, chân dung
của chính người phê bình, và sự thật của đối tượng nghiên cứu. Cách phản ánh sự
thật qua văn bản thơ giúp người đọc hình dung được đời sống tinh thần, tâm sự
của tác giả, thông điệp, tư tưởng tác giả muốn chuyển tải đến người đọc. Hoạt
động tác giả còn được thấy rõ hơn qua hệ thống liên kết của các mạch kiến thức
khoa học trong phê bình của Mai Văn Phấn. Thực tế, nhiệm vụ cơ bản nhất của nhà
văn nói chung, nhà phê bình nói riêng vẫn là ở việc anh ta phải nói ra được sự
thật về những giá trị văn chương mà anh ta thấy trong cuốn sách, trong đời
sống. Nếu có am hiểu nhiều loại sự thật, nhà phê bình có khả năng để vượt qua
những định kiến chính trị, và cả những cảm quan đang thống trị anh ta trong
cuộc sống cũng như trong quá trình viết. Chính vì vậy Mai Văn Phấn còn có khả
năng tự đánh giá/ phê bình thơ mình, tự bồi đắp nghĩa cho văn bản thơ do mình
viết ra từ trước, thậm chí có những bài đã hơn 20 năm trước (như trường hợp bài
“Thuốc đắng”). Hay khi bắt gặp một câu thơ hay, Mai Văn Phấn thường liên tưởng
ngay đến một chi tiết thực trong thực tiễn, hoặc một cảm xúc anh từng trải qua,
hoặc một tình huống đã từng trải nghiệm trong quá khứ. Cụm từ anh thường sử dụng
để biểu đạt điều này là: Tôi liên tưởng [tr.28], Tôi hình dung [tr.39]; Tôi cảm
nhận như... [tr.41] hoặc mỗi lần đọc tôi nhớ; người đọc có cảm giác [tr.54];
tôi ví tựa [tr.70], Đọc thơ... tôi nhận ra [tr.99]; Điều ấy gợi cho tôi tưởng
tượng tới cái ngày các sinh linh được gọi tên [tr.17]; nhắc ta nhớ tới trò chơi
cút bắt [tr.43]; mang cho người đọc cảm giác [tr.149]; như tôi nhận thấy
[tr.173]... Sau mỗi vế câu đó là những hình ảnh thi vị được tưởng tượng liên
chủ thể tiếp tục, đầy tính thơ. Đặc điểm này ít có ở những nhà phê bình kiểu
nói hoặc kiểu chuyên nghiệp (theo cách phân loại của Albert Thibaudet). Quan
sát các cảm xúc, hình ảnh được gợi ra từ thơ qua lăng kính phê bình cũng là một
điểm gợi khá lý thú trong phê bình của Mai Văn Phấn. Có thể tóm tắt quá trình
đó như sau:
Thực
tiễn - văn bản 1 (thơ) - người đọc - văn bản 2 (phê bình) - Thế giới tưởng
tượng của nhà phê bình - thế giới tưởng tượng của người đọc phê bình: thực tiễn
1, nhà thơ 1, văn bản thơ 1 - văn bản sáng tạo 3.
Các
cụm từ Mai Văn Phấn hay dùng như “Cách đọc tập thơ này cho tôi liên tưởng mình
đi qua một cánh cửa quay” [tr.28]; “Đoạn thơ... cho ta hình dung, một người ném
lia thia bằng viên sỏi, nhìn theo nó trượt trên mặt hồ nước rồi chìm, rồi tư
duy về sự chìm đó, và cảm thấy mình trống rỗng [tr.12]. Hay khi phân tích thơ
Pháp Hoan, tác giả viết “Thủ pháp này khiến người đọc hình dung như đang xem
một họa sĩ vẽ trên một tấm toan” [tr.19]. Hay cách so sánh của nhà thơ rất cụ
thể “bài thơ tựa giếng sâu, mỗi lần đọc tôi như được múc từng gàu nước nhỏ,
càng múc nước giếng càng thêm trong mát” [tr.22]; hay cách Mai Văn Phấn diễn
đạt cảm xúc khi phê bình cũng rất... thi sĩ: “Niềm vui ấy thật lạ lùng, tôi cảm
nhận như chúng được cô đặc rồi trương nở trong một thể tích rất hẹp” [tr.41].
Hay ở một đoạn khác là “Sự chuyển dịch này tựa một người nhẹ nhàng tự rút cánh
tay mình khỏi ống tay áo và làm tay áo rỗng không. Hành động ấy khiến ký ức sâu
hun hút khi nó đã già nua, ở đây người đọc có cảm giác ký ức ấy gần như dừng
lại” [tr.54]; “Quê hương trong thơ anh tôi ví tựa rễ cây, loại rễ chùm mà nếu
cắt trụi đi, cây tức thì héo úa, không thể tồn tại” [tr.70]... Phê bình của Mai
Văn Phấn cứ thế tự nhiên tạo được cảm giác nhẹ nhàng khi đến với người đọc,
đồng thời góp phần khích lệ sự sáng tạo của các nhà thơ. Kiểu phê bình của Mai
Văn Phấn mang đặc điểm của người vừa làm khoa học vừa công việc sáng tác. Nhà
phê bình cần hiểu rõ tính biểu tượng trong văn chương là một thành tố của hành
vi giao tiếp khi viết phê bình. Anh ta phải am hiểu về cả ngữ dụng học, ngữ
nghĩa học và cú pháp học. Vì vậy, để chuyển tải được các thông điệp rõ ràng,
cấu trúc câu văn phê bình của Mai Văn Phấn thường là các câu đơn có cấu tạo
ngắn gọn, trong sáng. Có nhiều đoạn văn dài liên tục gồm các câu đơn được kết
nối với nhau rất logic, chặt chẽ, thường mang tính đơn nghĩa. Trong mỗi bài
viết, tùy theo nội dung, ông thường có đúc kết một kinh nghiệm về sáng tác,
hoặc một trải nghiệm đã có. Chẳng hạn khi viết về tập thơ “Cánh trăng” của Đinh
Trần Phương như một nơi hội tụ sáng, Mai Văn Phấn viết: “Thơ ba câu, theo tôi
dễ làm nhưng khó hay. Điều cốt yếu ở đây là dù viết ngắn hay dài thì trước hết
phải là thơ. Ngoài những niêm luật như các thể thơ khác, thơ ba câu còn có
những đặc thù riêng” [tr.35]...
Kết
nối giữa đạo đức và sự thật trong phê bình đã tạo nên một phần chân dung phê
bình Mai Văn Phấn. Bởi phê bình văn học không chỉ là khoa học mà còn là nghệ
thuật. Sự thật và đạo đức cần được dung hòa để tạo nên sự công bằng trong đánh
giá và sự đồng cảm trong tiếp nhận tác phẩm. Mai Văn Phấn đã thể hiện điều này
qua việc sử dụng lối viết phê bình gợi cảm, dễ tiếp cận nhưng không làm mất đi
tính chính xác và giá trị học thuật. Tôi nghĩ phê bình không cho thấy một Mai
Văn Phấn khác. Tôi thấy ông vẫn vậy, vẫn có sự thống nhất từ giọng điệu, kết cấu,
điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ, phong cách... trong các sáng tác nghệ thuật
trước đây của ông. Có khác chăng là tập phê bình Nhịp điệu vẽ lối đi là một sự
tổng hợp, tiếp nối hành trình kiến tạo các căn phòng tri thức trong ngôi nhà
nghệ thuật của ông thêm phần phong phú, hoàn thiện hơn về nội thất. Có thể nói
sự nghiêm cẩn, điềm tĩnh sâu sắc trong nghiên cứu, trong các phát ngôn về quan
điểm sáng tác, quan điểm phê bình, sự thức thời, tài hoa trong sáng tạo của Mai
Văn Phấn trước đây, cũng như hiện tại đã được chứng minh trong cả sáng tạo thơ
ca và lĩnh vực nghiên cứu phê bình. Có thể nói, phê bình của Mai Văn Phấn gợi
cho người đọc khá nhiều suy nghĩ về phê bình văn học hiện nay ở Việt Nam. Vấn
đề đạo đức và sự thật vẫn là cốt lõi trong nguyên tắc phê bình của Mai Văn
Phấn. Chính con người Mai Văn Phấn với những tác phẩm của ông cũng là một thiết
chế đạo đức, đạo đức tuân thủ quy tắc sáng tạo nghệ thuật và quy tắc đạo đức
làm người.
M.T.L.G
[1]
Mai Văn Phấn, “Nhịp điệu vẽ lối đi”, phê bình - tiểu luận, NXB Hội Nhà văn,
2024.

(Tạp
chí Nhật Lệ, số Chuyên đề, Quý 3-2026)