Đề số 8, rút trong “Bộ đề kiểm tra, đánh giá Ngữ văn 9: Mấy suy nghĩ về thơ hay
ĐỀ
SỐ 8
(Rút
trong sách “Bộ đề kiểm tra, đánh giá Ngữ văn 9”)
PHẦN
I ĐỌC HIỂU (6 điểm)
Đọc
văn bản
MẤY
SUY NGHĨ VỀ THƠ HAY
(Mai
Văn Phấn)
Vẫn
còn đó những tranh luận xoay quanh ý niệm thế nào là thơ, nên chuyện thơ hay sẽ
càng mông lung hơn khi lý giải về nó. Nhận diện, đề xuất tiêu chí thơ hay thành
ra bao hàm ít nhiều tính chủ quan mà người viết bài này khó tránh khỏi.
Vậy
thế nào là thơ hay? Có lẽ đó là điểm sáng đầu tiên nhưng chỉ là một phần nằm
trong tổng thể giá trị của thơ. “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là bài
thơ hay nhưng không thể so sánh với giá trị bất tử của bài thơ “Nam quốc sơn
hà”, một tuyên ngôn lồng lộng chính khí.
Ý
niệm thơ hay chắc chắn thay đổi theo quan niệm Đông-Tây, vùng miền, thời đại,
theo khuynh hướng phê bình và còn tùy cách tiếp cận của mỗi người, trong từng
thời điểm. Thơ Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Quang Dũng… một thời bị nhìn nhận
phiến lệch là vậy.
Tiêu
chí thơ hay còn cần được lý giải trên nhiều khía cạnh như ngôn ngữ, tư tưởng,
thần thái của bài thơ... Đi tìm một bài thơ hay toàn diện, hay trong mọi thời
đại, hay với mọi người là chuyện mò kim đáy biển. Câu thơ “Mắt em là một dòng
sông/ Thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em” (Đôi mắt) của thi sĩ Lưu Trọng Lư
đến hôm nay có lẽ đã hơi mờ nhạt. Ngược lại, câu thơ của Thanh Tâm Tuyền “tôi
buồn khóc như buồn nôn/ ngoài phố/ nắng thủy tinh/ tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ/
thanh tâm tuyền” (Phục sinh) trong thời đại mới, vẫn bị xem là khó hiểu dù chỉ
phơi bày một lát cắt hiện thực dang dở, đang mở, và còn chờ đón sự chắp nối của
người đọc.
Nhà
thơ Lê Đạt quan niệm “Thơ hay bao giờ cũng có tiếng thầm thì: đó là tiếng gọi
nhau của chữ” (Thầm thì); Và, ông gọi thơ là “cõi chữ”.../ Với tôi, bài thơ hay
là có thể mở ra cho chính tác giả và người đọc một không gian mới lạ với sự
ngạc nhiên, run rẩy trong tâm thức. Không gian ấy nằm trong khoảng lặng giữa
các câu chữ, trong và cả phía sau văn bản thơ. Bài thơ “Linh hồn những con bò”
của Nguyễn Quang Thiều là một ví dụ. [...]
Thơ
hay như thế không hạn chế ở đề tài. Thơ ngâm vịnh của Lý Bạch, thơ nhân sinh
của Đỗ Phủ, thơ thiền của Không Lộ còn đó những tuyệt tác. Rồi thơ trữ tình của
Alexander Pushkin, Walt Whitman… rung lên bao cung bậc. Nếu "Tang khúc cho
Ignacio" của García Lorca gửi lại nhân gian cảm thức rụng rời bi tráng về
cái chết: "Ignacio lên từng bậc thang/ Cõng trên lưng cái chết./ Tìm kiếm
bình minh/ Mà bình minh không có/ Tìm bóng đích thực mình/ Mà giấc mơ đánh lạc/
Tìm thân mình khoẻ đẹp / Mà thấy máu mở tuôn." (Hoàng Hưng dịch), thì “Tây
Tiến” của Quang Dũng cũng dựng lên tượng đài chiến sĩ vô danh khi “Sài Khao
sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Bên cạnh đó, bài thơ
“Cáo tật thị chúng” của thiền sư Mãn Giác lại nuôi trồng niềm tin tâm linh:
“Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,/ Đêm qua sân trước một nhành mai.” (Ngô Tất Tố
dịch)
[...]
Có nhiều khía cạnh khác nhau về thơ hay. Thơ Phạm Thiên Thư hay trong thần thái
của phiêu lãng đạo và đời. Thơ Trần Dần ngổn ngang trong việc bày biện giữa cái
tôi nhân sinh và vũ trụ hằng hà. Thơ Charles Beaudelaire đẹp trong những những
suy tư triết học, trong khi Alphonse de Lamartine lại cực kỳ lãng mạn. Nếu
Nguyễn Khuyến trầm tư với màu thu thì Hồ Xuân Hương lại cười cợt nhân gian. Khi
Bà Huyện Thanh Quan hoài cổ để đeo sầu thì Bùi Giáng lại bỏ mặc nhân thế trong
cõi ta bà [1] mộng mị. Mỗi người một vẻ hay trong phong
thái. Trên bình diện ngôn ngữ cũng tương tự. Thơ Đường đẹp trang trọng với
những ước lệ ngôn từ thì thơ hậu hiện đại tung tẩy những con chữ đời thường.
Các nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng… mỗi người
sở hữu một thứ ngôn ngữ riêng nhưng đều rất… thơ.
Thơ
hay có thể đến tình cờ với một số thi sĩ trong khoảnh khắc đốn ngộ [2],
xuất thần... Nhưng đa số các nhà thơ có được thơ hay qua quá trình tu luyện,
tích lũy kiến thức phong phú, một hành trình bới tìm “vỉa quặng” của tâm hồn,
đợi đến khi chín muồi, cảm xúc sẽ chợt nhòa chợt hiện, và nhà thơ viết với tất
cả choáng ngợp của mình. Sự choáng ngợp mê man của tác giả rồi sẽ lan truyền
đến người đọc. Tưởng như, nhà thơ gặp bài thơ hay giống như người tọa thiền
quán tưởng trong quả chuông ánh sáng, hoặc cảm giác như kẻ thoát xác; tưởng như
nhà thơ lúc đó là kẻ lạc vào rừng rậm, đang choáng ngợp với những thân đại thụ
cao ngất vòm lá kín trời, còn những cây dương xỉ, con sóc, con sâu nhỏ bé, hoặc
cả những vỉa ngầm… dành lại cho người đọc hình dung. Đúng như Octavio Paz đã
viết “Thơ ca là khoảnh khắc ngừng lại của thời gian”.
[...]
Thơ hay, cuối cùng còn tùy khả năng đồng sáng tạo của người đọc. Phần lớn người
đọc đều bị động trước các tác phẩm thơ, tức chờ bài thơ đi vào lối mòn của mình
để đồng cảm đồng điệu mà ít có ý thức vươn tới giá trị của thi ca. Nếu có thơ
tinh tuyển thì cũng cần có cách đọc tinh lọc. Đó là cách đọc dám từ bỏ thói
quen cũ, sẵn sàng đến với những giá trị mới một cách bình tĩnh, công bằng; lắng
nghe thơ chuyển động, dĩ nhiên quan trọng, nhưng lắng nghe chính mình càng quan
trọng hơn.
(In trong Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, NXB Hội
Nhà văn, Hà Nội, 2011, tr. 387 – 392)
[1]
Ta bà: thuật ngữ Phật Phật giáo, chỉ nơi chúng ta đang sống.
[2]
Đốn ngộ: thuật ngữ Phật Phật giáo, chỉ sự bừng tỉnh, đột ngột nhận thức ra một điều
gì đó, thường là về hiện thực, chân lí.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm).
Theo tác giả, ý niệm “thơ
hay” được thay đổi dựa trên những tiêu chí nào?
Câu 2 (0,5 điểm).
Dấu hiệu nào trong đoạn
trích sau đây cho thấy người viết đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích
dẫn tài liệu:
Nếu Tang khúc cho Ignacio (Ích-na-xi-ô) của García Lorca (Gác-xi-a
Lô-ca) (Hoàng Hưng dịch) gửi lại nhân gian cảm thức rụng rời bi tráng về cái
chết: “Ich-na-xi-ô lên từng bậc thang/ Cõng trên lưng cái chết./ Tìm kiếm bình
minh/ Mà bình minh không có/ Tìm bóng đích thực mình/ Mà giấc mơ đánh lạc/ Tìm
thân mình khỏe đẹp/ Mà thấy máu mở tuôn...”, thì Tây Tiến của Quang Dũng cũng dựng lên tượng đài chiến sĩ vô danh
khi “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.
Câu 3 (1,0 điểm).
Xác định luận đề của văn
bản. Cơ sở nào giúp em xác định được luận đề đó?
Câu 4 (1,0 điểm).
Văn bản có những luận
điểm nào? Chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm.
Câu 5 (1,0 điểm).
Tác giả đã đưa ra những
lí lẽ và bằng chứng nào để làm sáng tỏ quan điểm thơ hay không hạn chế ở đề
tài?
Câu 6 (2,0 điểm).
Em có suy nghĩ như thế
nào về ý kiến sau: “Thơ hay, cuối cùng còn tùy khả năng đồng sáng tạo của người
đọc”? Hãy trả lời bằng một đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu).
PHẦN II. VIẾT (4,0
điểm)
Hãy viết bài văn nghị
luận bàn về sức mạnh của lòng khoan dung.
