image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Một hướng chuyển động của thơ Việt đương đại – Mai Văn Phấn

Một hướng chuyển động của thơ Việt đương đại

 

 

Mai Văn Phấn

 

Trong dòng thông tin tràn ngập của đời sống đương đại, ngôn ngữ ngày càng tối giản, gia tốc và thiên về phản xạ tức thời. Giữa cấu trúc diễn ngôn đa tầng ấy, thơ hiện diện như một hình thức đặc thù, nghiêng về chiều sâu của đời sống tinh thần, nơi nhịp đọc chậm lại, cảm thức trở nên tinh tế hơn, và con người có thể tiếp cận thế giới bằng những rung động riêng tư, bền bỉ hơn.

Cùng với chuyển động ấy, quan niệm về thơ cũng dần đổi khác. Bài thơ không còn khép kín trong những ý nghĩa định sẵn, mà hiện diện như một cấu trúc mở, chỉ thực sự thành hình trong quá trình tiếp nhận. Người đọc không còn đơn thuần giải mã văn bản như trước, mà lần theo nhịp điệu, khoảng trống và những vùng mờ của ngôn từ để cùng tham dự vào hành trình kiến tạo ý nghĩa với tác giả.

Trong bối cảnh thơ Việt đương đại, có thể nhận diện một hướng chuyển động thẩm mỹ đáng chú ý: từ quan niệm thơ như một phát ngôn mang ý nghĩa xác định sang thơ như tiến trình kiến tạo trải nghiệm. Ở đó, ngôn ngữ, hình ảnh và nhịp điệu không chỉ mang chức năng biểu đạt, mà còn mở ra những trường cảm nhận mới lạ, nơi ý nghĩa luôn ở trạng thái hình thành.

Trong thơ ca truyền thống, hình ảnh thường gắn với hệ thống biểu tượng; chúng vừa là sự vật cụ thể, vừa chuyên chở những giá trị và ý nghĩa văn hóa đã được cộng đồng chia sẻ. Trong thơ Việt đương đại, hình ảnh không còn hướng tới dẫn dắt người đọc đến một tầng nghĩa định sẵn, mà mở ra những trường cảm nhận, nơi ý nghĩa được hình thành trong chính quá trình tiếp nhận văn bản.

Ở thơ Nguyễn Quang Thiều, những hình ảnh quen thuộc như cánh đồng, ngọn đèn, con chó, bát cơm hiện ra với độ lắng khác với thế hệ thơ trước đó; chúng mang theo ký ức hậu chiến, những đổ vỡ khó gọi tên trong thì hiện tại và cảm thức thiêng liêng, mong manh thấm vào những vật dụng bình dị. “Ngọn đèn đó ông bà tôi để lại/ Đẹp và buồn hơn tất cả những ngọn đèn” (“Bài hát về cố hương”). Khổ thơ mở ra khoảng lặng để người đọc tự đối diện với những dư âm. Thi ảnh không nhằm giải mã, mà khơi dậy cảm xúc rồi lắng xuống, để lại một trạng thái hơn là ý nghĩa.

Nguyễn Lương Ngọc lại đẩy hình ảnh vào những đứt gãy, nơi thân thể, cái chết, dục vọng và lịch sử va đập không theo trật tự. Người đọc bị cuốn vào trạng thái bấp bênh, nơi mọi thao tác lý giải đều dễ trượt khỏi đối tượng. “những con đã sinh ra thì đã chết/ những con chưa chết thì chưa sinh ra” (“Gọi hạc”). Mạch thơ trở thành vùng chấn động, buộc người đọc chấp nhận sự đứt gãy như điều kiện hình thành ý nghĩa. Thực tại không còn được kiến tạo theo logic nhân quả, mà trình hiện như những giao điểm giữa các lớp tồn sinh: sự sống – cái chết, hiện hữu – biến mất, tỏ rạng – mờ nhòe... Vì thế, khổ thơ đặt người đọc vào trạng thái lơ lửng, nơi việc đọc trở thành trải nghiệm hơn là một hành vi giải mã.

Dương Kiều Minh chọn con đường lặng lẽ hơn. Thi ảnh của ông mở ra miền trung gian, nơi mọi sự vật tồn tại trong trạng thái lưng chừng – giữa có và không, giữa hiện diện và tan biến. “Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu/ tôi nằm viên mãn – chiếc lá vàng dưới hàng song thụ/ Nếu mẹ tôi mà biết/ Liệu mẹ tôi trách cứ các người.” (“Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu”). Ở đây, cái tôi trữ tình không đối thoại, không phản kháng, cũng không tự biện minh, mà lặng lẽ hòa vào nhịp điệu tự nhiên của đời sống. Im lặng trở thành một dạng diễn ngôn, nơi cảm xúc hầu như không xác quyết. Khổ thơ vì thế mở ra chiều sâu an tĩnh, níu giữ bằng cảm giác lắng dịu, mọi chuyển động như chậm lại, còn ý thức cứ thế miệt mài trôi đi.

Trong thơ của nhiều tác giả nữ, hình ảnh thường gắn với ký ức thân thể và những tổn thương khó định danh. Chúng xuất hiện như vết tích hơn là biểu tượng – không nhằm lý giải, mà vấn vương cảm giác mong manh của tồn tại. “trong tiếng kêu dài tuyệt đỉnh/ thành đôi chim thiêng sải cánh mặt trời” (Hàm Anh – “Rơi”). “ôi những bức bối ngộp thở/ không đủ lãnh cảm em/ không đủ chôn lấp em/ không đủ giam cầm em/ giữa những cơn hổn hển của không gian/ em bình tâm/ thở.” (Như Bình – “Khúc hát của người đàn bà và khe cửa hẹp”). Thơ của họ không phải là điểm kết của cảm xúc, mà như lớp “vỏ mỏng” khép lại toàn bộ trải nghiệm thi ca đã diễn ra trước đó, nơi tổn thương hiện diện như một trạng thái đã thấm sâu, buộc cái tôi học cách chung sống hơn là vượt thoát.

Khi hình ảnh không còn đơn thuần là biểu tượng, cái tôi trữ tình cũng không giữ vị trí trung tâm phát ngôn như trước. Trong thơ truyền thống, chủ thể thường xuất hiện với giọng điệu và lập trường bất biến. Thơ đương đại, tách mình ra khỏi truyền thống, đặt cái tôi trong trạng thái khả biến, di dịch như điểm dao động trong trường ngôn ngữ, chỉ hình thành và tan biến ngay trong quá trình diễn ngôn.

Ở Nguyễn Bình Phương, cái tôi thường ly tán, xuất hiện rồi tan nhòa, không giữ được hình dạng ổn định. Thay vì khẳng định bản ngã, thơ ông đặt chủ thể vào trạng thái tách rời khỏi thân thể và ký ức, qua đó bộc lộ sự lệch pha giữa con người và chính họ. “Người cuối cùng lắng nghe tiếng chuông/ Ngân nga lên tóc em lên làn da xa thẳm…/ Khung cửa hẹp bỗng làm anh hồi hộp/ Có một người trở về sau ánh chớp/ Lặng lẽ mang đi hư ảnh cuối cùng” (“Bâng quơ”). Ở đây, cái tôi thoáng hiện rồi tan biến vào trạng thái siêu thực, nơi ranh giới giữa hiện hữu và hư ảnh trở nên mờ nhòa. Thơ không níu giữ bản ngã, mà chấp nhận trạng thái trôi dạt như một hình thức tồn tại mặc nhiên trong thế giới bất định.

Nếu Nguyễn Bình Phương để cái tôi tan rã trong cảm thức hiện sinh, thì Inrasara đặt nó vào những va chạm của bản sắc văn hóa. Thơ ông trình hiện như chuỗi tự vấn, nơi cái tôi dao động giữa các lớp căn tính: cá nhân, cộng đồng, lịch sử, tôn giáo. Trong khi đó, Nhã Thuyên tiếp tục đẩy cái tôi ra khỏi những chuẩn mực diễn ngôn quen thuộc: giọng nói ngắt đoạn, lệch nhịp, không đại diện cho một vị thế xác định, mà đặt chính hành vi phát ngôn vào trạng thái bị chất vấn. Ở đây, cái tôi không còn chiếm chỗ. Vì thế, bài thơ không buộc người đọc tiếp nhận một kinh nghiệm có sẵn. “bầu vú đỏ hoa rừng rực lên ráng chiều, tôi đang mở ngực và chăm chú nhìn những ô cửa đỏ mở trên ngực” (“tất cả những câu chuyện này cho ai”). Hình ảnh vận động theo logic cảm giác và trực giác, khiến ý nghĩa luôn dang dở, mở ra cho người đọc cùng tham dự vào tiến trình kiến tạo ý nghĩa.

Trong thời đại kết nối, ngôn ngữ ngày càng bị đẩy về chức năng thông tin: nhanh gọn, hiệu quả, hướng tới khả năng truyền đạt tức thì hơn là độ lắng sâu của trải nghiệm. Trước xu hướng ấy, nhiều thực hành thơ Việt đương đại lựa chọn cách biểu đạt khác. Chữ vừa là phương tiện chuyên chở ý nghĩa, vừa thành nơi trú ngụ của cảm giác và suy tưởng.

Với Lê Vĩnh Tài, ngôn ngữ thường xuyên va chạm trực tiếp với đời sống đô thị. Câu thơ mang nhịp điệu gấp gáp, xô lệch, tạo nên sức căng nội tại cho văn bản. Chữ không đứng ngoài đời sống để mô tả, mà dịch chuyển ngay trong nó, mang theo sự hối hả, va đập và đứt gãy của tồn tại. “sau một tin nhắn vay thi thoi/ ướt đẫm câu nói mớ/ đêm không ngựa không yên cương mà phi nước chảy/ đuổi theo nhau ngày tháng có nhau/ đuổi theo nhau không còn nhau nữa” (“bài thơ người tuổi ngựa”). Ở đây, ngôn ngữ phơi lộ giới hạn của chính nó trước dòng chảy quá tải của đời sống. Ý nghĩa xuất hiện tựa cảm giác hụt hẫng hơn là điều có thể nắm bắt. Khổ thơ vì thế mở ra trạng thái hiện sinh bấp bênh, nơi con người tồn tại trong sự rượt đuổi không ngơi của thời gian và các mối quan hệ.

Nhà thơ Nguyễn Thị Thùy Linh lại dịch chuyển ngôn ngữ sang một chiều kích khác: chậm rãi, trong suốt, gắn với cảm thức tâm linh và khả năng tự chữa lành. Hình ảnh không nhằm diễn đạt hay khái quát hóa kinh nghiệm, mà mở ra những vùng lắng sâu, nơi chủ thể có thể đối diện với tổn thương, hòa giải với bản thân và tái sinh. “Đêm qua, linh hồn tách ra từ thân thể tôi như ngọn lửa bay lên, sắc xanh mát dịu. Lần đầu tiên tôi thấy linh hồn mình đẹp đẽ, trong ngần như thế. Nó tự cắt những sợi dây đang trói chặt ánh lửa và bay lên như được giải phóng.” (trường ca “Ngọn lửa đôi và Bông hoa”).

Trong nhiều bài thơ đương đại, khoảng trắng trở thành yếu tố cấu trúc của ngôn ngữ, tham gia trực tiếp vào quá trình tạo nghĩa. Những chỗ ngắt quãng, những dòng trống làm gián đoạn mạch diễn đạt, cho phép cảm giác lan rộng và tư duy chậm lại. Khi ngôn ngữ không còn nhằm thao túng hay chiếm lĩnh, thơ trở thành một hình thức cư ngụ. Trong môi trường ngôn ngữ ngày càng bị lặp lại, sao chép và tự động hóa, thao tác làm chậm ấy có thể được hiểu như một cách giữ cho ngôn ngữ còn khả năng truyền tải tư duy và cảm xúc.

Trong thơ hiện đại, nhịp điệu không còn bó buộc trong hệ thống vần luật, mà bung mở thành nhịp thở nội tại của bài thơ – nhịp vận động của ý thức và cảm xúc. Nó không còn được đo bằng số chữ hay âm tiết, mà được hình thành từ khoảng ngắt, sự chảy trôi và những điểm dừng buộc người đọc phải chậm lại.

Có những bài thơ mang trạng thái như đứng yên: câu thơ tối giản, rời rạc, đặt giữa những khoảng trắng rộng, khiến ý nghĩa chỉ hiện ra mong manh hơn là một thông điệp rõ ràng. Nhịp thơ không nằm trong âm thanh, mà trong cấu trúc gián đoạn và sự trôi chậm của hình ảnh. “Tôi ngồi vào/ chiếc ghế trống/ và tôi trống không”; hay “nằm bên hơi thở em/ bề mặt giấc ngủ/ con cá bạc ánh ngày” (Đinh Trần Phương – thơ Haiku) là những ví dụ tiêu biểu cho lối thơ biểu tượng, nơi hình ảnh không khép nghĩa mà mở ra nhiều tầng cảm nhận, trừu tượng và ám gợi.

Bên cạnh đó, có những bài thơ diễn tiến trong trạng thái gấp gáp, dồn đuổi, xô lệch. Câu dài ngắn đột ngột, ngắt quãng bất thường. Nhịp thơ không trôi chảy mà va đập, chao đảo. Nhưng chính sự chao đảo ấy giữ cho bài thơ trung thực với kinh nghiệm sống: những ngày không ổn định, những ý nghĩ rối bời, những cảm xúc chưa kịp gọi tên. “Anh quấn tôi tình yêu quấn cỏ/ Thời khắc của quả chín từ trên cây rụng xuống/ Tôi biết – tôi thấy – tôi nghe/ Mọi ngã rẽ như nấc liệng của cái đĩa rơi trong nước” (Trang Thanh – “Khoảnh khắc”).

Trong thực hành thơ đương đại, nhịp điệu vì thế vừa là yếu tố hình thức, vừa trở thành một phương thức cấu trúc trải nghiệm đọc. Những điểm ngắt, sự chênh lệch độ dài của câu và khoảng trống giữa các dòng định hình cách văn bản được đọc và cảm nhận.

Trong đời sống thơ đương đại, không tồn tại một hướng đơn nhất. Bên cạnh những thực hành thơ tiếp tục đảm nhiệm chức năng phát ngôn trực diện, chính luận hoặc can dự xã hội, vẫn song song tồn tại những khuynh hướng khác, thiên về trải nghiệm thẩm mỹ, chiều sâu cảm giác và khả năng kiến tạo những không gian cảm nhận mở. Các hướng này không loại trừ nhau mà cùng góp phần hình thành những cấu trúc đa tuyến của đời sống thơ.

Trong những thực hành theo chiều hướng này, thơ không đặt mình vào vị trí đại diện hay nói thay cộng đồng, cũng không hướng tới việc tạo lập những thông điệp thống nhất hay lập trường xác quyết. Thay vào đó, nó kiến thiết những trường kinh nghiệm, nơi những chi tiết đời sống, những trạng thái mong manh và những cảm giác khó gọi tên trở thành trung tâm của diễn ngôn. Ý nghĩa không được trao sẵn mà hình thành trong quá trình tiếp nhận, thông qua sự cộng hưởng giữa văn bản và người đọc.

Thơ Việt Nam đương đại đang góp phần làm dịch chuyển không gian tinh thần, nơi ý thức và cảm xúc được đặt trong trạng thái dao động, thử nghiệm và tự chiếu. Ở đó, ngôn ngữ vận hành như một quá trình dò tìm những khả thể tồn tại khác của đời sống, xuất phát từ kinh nghiệm sống, lịch sử tinh thần và lựa chọn thẩm mỹ riêng của từng tác giả, đồng thời mở ra những miền cảm nhận mới cho người đọc cùng tham dự vào tiến trình kiến tạo ý nghĩa.

Mối quan hệ giữa văn bản, tác giả và người đọc vì thế không mang tính đơn tuyến, mà hình thành trong trạng thái cộng hưởng, nơi ý hướng sáng tạo gặp gỡ những kinh nghiệm tiếp nhận đa dạng trong những bối cảnh văn hóa – xã hội cụ thể. Trong một thời đại ngôn ngữ ngày càng chuẩn hóa và công cụ hóa, thơ không chỉ làm mới hình thức biểu đạt, mà còn trở thành không gian giữ gìn độ lắng sâu của cảm xúc, của suy tư.

Từ những thực hành đa dạng ấy, có thể thấy thơ Việt đương đại vừa vận động trong cấu trúc mở của tiếp nhận, vừa mang dấu ấn của các chủ thể sáng tạo đang đối diện với những biến động lịch sử, xã hội và tinh thần của thời đại mình. Chính trong sự đan xen ấy, thơ góp phần mở rộng biên độ tư duy thẩm mỹ, tạo ra những khả năng cảm nhận mới cho người đọc, đồng thời làm phong phú thêm cách con người hiện diện trong đời sống tinh thần đương đại.

 

Hải Phòng, 05/02/2026

M.V.P

 

 

 

“Trú mưa” của Nagoya Takashi (Nhật Bản)

 

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị