Đề thi môn Ngữ văn – Kỳ thi chọn học sinh giỏi THCS quận Lê Chân, Hải Phòng, năm học 2024–2025
17/11/2025
|
UBND QUẬN
LÊ CHÂN
PHÒNG GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
(Đề thi gồm 02 trang)
|
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
QUẬN CẤP THCS NĂM HỌC 2024 - 2025
ĐỀ THI MÔN: NGỮ
VĂN
Thời gian:
150 phút (không
kể thời gian
giao đề)
|
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (2,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
THỊ
TRẤN BÊN KIA SÔNG
chuyến phà cuối cùng chen chúc người đi
ngày mai cây cầu được khánh thành bắc qua thị trấn
có phải người ta thường tiếc nuối khi không thể quay trở
lại thời gian
có bà lão nhớ thời con gái đạp xe vội kịp chuyến phà ra
thành phố trọ học xa nhà có ông lão chống gậy bồi hồi nhớ sông dù đang đứng
trước nó
có chị xe thồ nhớ lần chen lấn được chỗ đứng cuối đuôi
phà rơi cả gánh rau xuống sông
có anh chở rươi ra thành phố bán làm bắn tung toé vào đám
người trên phà vì quá vội
thị trấn êm đềm năm xưa giờ lộng lẫy thành đô thị qua cầu
chuyến phà cuối cùng
chở kí ức về thị trấn chở đời người mãi trôi
chở những cơn gió từ cánh đồng hoa ngô bên bờ sông ve
vuốt mái tóc của cô gái bé nhỏ từ ngày ấu thơ đến khi cô thành thiếu nữ rời thị
trấn
chở những chiều câu cáy, nướng khoai, tắm truồng của
chàng trai năm xưa
anh đã đi khắp thế gian chưa thấy dòng sông nào có những
buổi chiều lấp lánh lạ thường hơn thế
thị trấn bên kia sông
chuyến phà cuối cập bến
có người lên hoảng hốt
đánh rơi cả hoàng hôn
(Trích
tập thơ “sương”, Lương Kim Phương, NXB Hội Nhà văn, 2022)
* Chú thích: Lương Kim Phương sinh năm 1982, sinh ra ở miền quê Tiên Lãng, Hải Phòng, hiện là Ủy viên Ban Chấp hành
Hội Nhà văn Hải Phòng – Trưởng
ban Nhà văn trẻ. Ngoài giảng dạy môn Ngữ Văn, chị còn là cây bút giàu năng lượng với nhiều sáng tác thơ và viết phê bình văn học. Thơ Lương Kim Phương diễn đạt tinh tế thế giới hoang
liêu trong tâm hồn người con gái như nỗi buồn mơ hồ trong buổi chiều nắng
nhạt, chút thoáng xót xa, những mang mác tiếc nhớ điều gì xa xăm đã mất, cảm giác hoang hoài trước những rạn vỡ thầm thì của thời gian. Bài thơ Thị trấn bên kia sông được tác giả viết
khi cây cầu Khuể được khánh thành,
những chuyến phà đưa đón người qua không hoạt động nữa và giờ đây
tất cả chỉ còn là miền nhớ trong kí ức của tác giả.
Thực hiện các yêu cầu
Câu 1. (1,0 điểm) Ý hiểu của em về những dòng thơ sau:
thị trấn êm đềm năm xưa giờ lộng lẫy thành đô thị qua cầu
chuyến phà cuối cùng
chở kí ức về thị trấn chở đời người mãi trôi
chở những cơn gió từ cánh đồng hoa ngô bên bờ sông ve vuốt mái tóc của cô gái bé nhỏ từ ngày ấu thơ đến khi cô thành thiếu nữ rời thị trấn
Câu 2. (1,0 điểm) Thông
điệp nào trong
văn bản có ý nghĩa nhất đối với em? vì sao?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1. (3,0 điểm)
Từ bài thơ Thị trấn bên kia sông của
tác giả Lương Kim Phương trong phần đọc hiểu, em hãy viết bài văn nghị luận với
chủ đề: Người ta không thể sống thiếu
kỷ niệm nhưng cũng không thể chỉ sống bằng kỷ niệm.
Câu 2 (5,0 điểm)
Trước câu hỏi “Điều gì mới là thật nhất trong thơ?” bạn đọc gửi đến tòa soạn “Văn học và tuổi trẻ”, phóng viên Hà
Ngân đã tìm gặp nhà thơ Mai Văn Phấn (đang sinh sống và sáng tác
tại Hải Phòng) và nhận được câu trả lời: “Nếu ví thơ như cái
cây thì rễ của nó
nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời sống. Cái cây kia
sống nhờ đất mà đơm hoa kết trái, hoa trái lại mang hình hài, sứ mệnh và giá
trị của riêng nó. Thơ ca cũng tương
tự như vậy, nó không
sao chép, mô phỏng đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn
từ.”
(Theo Mai Văn Phấn,
Điều gì thật nhất trong thơ? Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ,
số tháng 1/2024)
Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy
nghĩ của em về ý kiến trên qua việc phân tích bài thơ “Thị trấn bên kia sông” của tác giả Lương
Kim Phương.
 
HẾT
(Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ tên thí sinh..... Số báo danh.....
Cán bộ coi thi số 1..... Cán bộ coi thi số 2.....
|
UBND QUẬN
LÊ CHÂN
PHÒNG GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
|
KỲ THI CHỌN HỌC
SINH GIỎI QUẬN CẤP THCS NĂM HỌC 2024 - 2025
|
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
MÔN: NGỮ VĂN
(Hướng dẫn chấm
gồm 06 trang)
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát
bài làm của thí sinh, tránh chỉ đếm ý cho điểm một cách đơn thuần. Do đặc trưng của
bộ môn Ngữ văn, tính chất cụ thể của đề thi và đặc điểm của kỳ thi chọn Học sinh giỏi trên cơ sở bám sát biểu điểm,
giám khảo chủ động, linh hoạt trong việc cho điểm. Những bài viết có sự phát hiện riêng, độc đáo, sáng tạo, có cảm xúc cần được khuyến khích.
Trong trường hợp thí
sinh tổ chức bài làm theo cách riêng nhưng đáp ứng được các yêu cầu cơ bản
của đáp án thì vẫn cho đủ điểm như Hướng dẫn chấm đã quy định (đối với
từng phần).
Điểm từng câu không
làm tròn. Điểm của bài thi bằng tổng điểm các câu, không làm tròn.
B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
|
Câu
|
Yêu cầu
cần đạt
|
Điểm
|
|
I. ĐỌC HIỂU (2,0 điểm)
|
|
Câu 1
(1,0
điểm)
|
Học
sinh có thể diễn đạt cách khác mà vẫn đảm bảo nội dung tương đương:
Cây cầu được khánh
thành là sự kiện đánh
dấu những đổi thay của quê
hương và trên chuyến phà cuối cùng tác giả nhớ về những kí ức đẹp của
cuộc sống nơi quê nhà, nhớ về những kỷ niệm đẹp của một thời tuổi trẻ.
|
1,0
|
|
Câu 2
(1,0
điểm)
|
*
Học sinh chọn một thông điệp có ý nghĩa.
Gợi ý một số thông điệp:
- Những kỷ niệm một thời tuổi trẻ là ký ức không thể nào quên.
- Hãy trân trọng cuộc sống lao động nhọc nhằn, hối hả của con người quê hương mình.
- Những kí ức đã qua sẽ giúp ta thêm yêu những điều bình dị xung quanh mình.
- Chuyến phà cuối cùng sẽ là khoảnh khắc đáng nhớ nhất.
...
* Học sinh lí giải hợp lý và thuyết
phục thông điệp
đã chọn (3 ý cho
điểm tối đa).
|
0,5
0,5
|
|
II. PHẦN
VIẾT (8,0 điểm)
|
|
Câu 1
(3,0
điểm)
|
Từ bài
thơ "Thị trấn bên kia sông”
của tác giả
Lương Kim Phương
trong phần đọc hiểu,
em hãy viết
bài văn nghị
luận với chủ
đề: Người ta không thể sống thiếu kỷ niệm nhưng
cũng không thể chỉ sống bằng kỷ niệm.
|
|
|
a.
Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận xã
hội: Có đầy đủ mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được
vấn
đề, kết bài
kết luận được
vấn đề.
|
0,25
|
|
b. Xác định
đúng vấn đề nghị luận:
“Người ta không thể sống thiếu kỷ niệm nhưng cũng không thể
chỉ sống bằng kỷ niệm”.
|
0,25
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các
luận điểm phù hợp; có sự liên kết chặt chẽ, biết kết hợp giữa nêu lý lẽ và đưa dẫn chứng tiêu biểu, cụ thể, sinh động; lập luận thuyết phục.
|
|
Thí sinh có thể làm theo nhiều cách khác
nhau, nhưng cần đảm bảo những ý sau:
*
Giải thích:
- Kỷ niệm: là món quà của quá khứ, là khoảnh khắc đã xảy ra mà ta luôn ghi nhớ.
- Không thể sống thiếu kỷ niệm: Khẳng định giá trị của kỷ niệm là cần thiết đối với cuộc sống của mỗi người.
- Không thể chỉ sống bằng kỷ niệm: Khuyên con người hãy nhớ rằng kỷ niệm chỉ là động lực để ta trân trọng những ngày tháng đã qua và nỗ lực hơn cho hiện tại và tương lai.
-> Ý nghĩa của chủ đề: Mỗi người ai
cũng có cho mình những kỷ niệm đẹp,
dù vui dù buồn thì đó đều là một phần đáng nhớ theo ta đến suốt cuộc
đời. Tuy nhiên không nên quá hoài niệm, nhớ tiếc những điều
đã qua mà cần sống
hết mình, nỗ lực vươn lên trong
thực tại và phấn
đấu cho những điều tốt đẹp phía trước.
|
0,25
|
|
*
Bàn luận: Học sinh trình bày
quan điểm cá nhân song cần hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo
đức. Dưới đây là một số gợi ý
- Mỗi chúng ta không thể sống thiếu
kỷ niệm:
+ Ai cũng có những kỉ niệm riêng
để lại trong
ta những dấu ấn khó phai. Kỷ niệm đó gắn với gia
đình, bạn bè, quê hương, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, hoàn thiện tính
cách, lối sống của bản thân sau này.
+ Những kỷ
niệm dù vui hay buồn đều có có vai trò vô cùng quan
trọng đối với mỗi con người. Những
kỷ niệm là hành trang
cần thiết đối với mỗi
người. Đó sẽ là những trải nghiệm đi theo ta cả đoạn đường đời, dạy cho
chúng ta nhiều bài học quý giá.
+ Những kỷ niệm đẹp giống như một liều
thuốc an thần giúp mỗi người vượt qua những khoảnh
khắc khổ đau,
mất mát; những
chênh vênh, tuyệt vọng nhất trong cuộc đời.
+ Người sống
không có kỷ niệm, không
có kí ức, tâm hồn sẽ nghèo nàn, sau này khi nhìn lại
không có gì đáng nhớ,
ta sẽ thấy nhàm
|
0,5
|
|
|
chán, trống vắng,
đơn điệu.Vì thế kỷ niệm là một phần của cuộc sống mỗi người.
-Tuy
nhiên con người
không thể chỉ
sống bằng kỷ
niệm:
+ Không phải ai trong
cuộc đời cũng có được những kỷ đáng
nhớ. Nhiều người, vì một lí do nào đó mà tuổi thơ của họ chỉ toàn bão
tố, đau buồn muốn quên đi. Cho nên nếu con người chỉ sống bằng những kỷ
niệm thì chính kỷ niệm đó sẽ khiến họ tổn thương, ám ảnh, day dứt; tâm
hồn và trái tim càng nhói đau, hụt hẫng khó có thể vượt qua để bước
tiếp.
+ Chúng ta đang đang
sống trong hiện
tại và tương
lai nên cần sống
hết mình bởi mỗi kỷ niệm sẽ là tấm gương soi chiếu để nhắc nhở mình
biết nghĩ và sống cho những điều tốt đẹp.
- …
- Mở rộng:
+ Kỷ niệm là những
gì đã qua không thể lấy lại được. Hãy cất giữ những kỷ niệm
đẹp trong tim, tha thứ và chấp nhận quên đi những kí ức tồi tệ đã là quá khứ.
+ Phê phán những người sống khép kín, thu mình trong hoài niệm tiếc nuối
những gì đã qua mà không biết
phấn đấu trong
hiện tại và tương lai phía trước.
+…
(Lưu
ý: Trong quá trình bàn luận, học
sinh cần có những bằng chứng tiêu
biểu phù hợp để làm rõ ý kiến của mình.)
|
0,5
0,5
|
|
* Bài học nhận
thức và hành
động:
- Cần nhận thức được vai trò của kỷ niệm đối với cuộc đời mỗi con người và tầm quan trọng của việc sống hết mình trong hiện tại và tương lai.
- Mỗi người cần trân trọng những điều bình dị đã qua; hãy gói ghém, gìn giữ cẩn thận những kỷ niệm đẹp bên mình và mang theo trên hành trình cuộc đời để tạo nên những giá trị riêng của bản thân
góp phần
làm đẹp cuộc
đời.
|
0,25
|
|
d. Chính
tả, ngữ pháp:
Đảm bảo quy tắc chính
tả, dùng từ, đặt câu.
|
0,25
|
|
e. Sáng
tạo: Có suy
nghĩ mới mẻ, sâu sắc về
vấn đề nghị
luận.
|
0,25
|
|
Câu 2
(5,0
điểm)
|
Viết
bài văn nghị
luận làm sáng tỏ nhận
định: “Nếu ví thơ như cái cây thì
rễ của nó nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời
sống. Cái cây kia sống
nhờ đất mà đơm hoa kết trái,
hoa trái lại mang hình hài, sứ mệnh và giá trị của riêng
nó. Thơ ca cũng tương tự như vậy, nó không
sao chép, mô phỏng đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện
thực bằng nghệ thuật
ngôn từ” qua việc phân
tích bài thơ “Thị trấn
bên kia sông”
của tác giả Lương Kim Phương.
|
|
|
a. Đảm bảo cấu
trúc bài nghị
luận văn học:
Có đầy đủ mở bài,
thân bài, kết bài. Mở bài nêu được
vấn đề, thân
bài triển khai được vấn
đề, kết bài
kết luận được
vấn đề.
|
0,25
|
|
b. Xác định
đúng vấn đề nghị luận:
Đặc trưng của thơ ca, thơ phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng
phải mang vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ. Đó là mối quan hệ giữa nội
dung và hình thức của tác phẩm văn học.
|
0,25
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các
luận điểm phù hợp, có sự liên kết chặt chẽ, biết kết hợp
giữa nêu lý lẽ và đưa dẫn chứng tiêu
biểu, cụ thể,
sinh động, lập luận thuyết phục.
|
|
Học sinh có thể làm
theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo những ý sau:
*
Giải thích:
- “Nếu ví thơ như cái cây thì rễ của nó nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời sống”: Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống. Thơ phải mang âm vang, tiếng vọng của cuộc sống.
- “không sao chép, mô phỏng đời sống”: tuy bắt nguồn từ đời sống nhưng thơ ca không phải là những trang giấy in nguyên vẹn bóng hình của cuộc đời rộng lớn, là sự sao chép nguyên xi hiện thực cuộc sống một cách máy móc, cứng nhắc.
-“thăng hoa,
phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn từ”: Hiện thực cuộc sống
đi qua lăng kính, qua tâm hồn của nhà thơ để lại những cảm xúc mãnh
liệt nhưng những
cảm xúc ấy cần phải kết hợp với tài
năng về nghệ
thuật trong việc
sử dụng ngôn
từ. Có như vậy mới tạo
nên những vần thơ hay, làm rung động lòng người đọc.
-> Ý kiến
của nhà thơ Mai Văn
Phấn đã khẳng
định: Thơ ca có sứ mệnh và giá trị
của riêng nó, vừa phản
ánh hiện thực
vừa thể hiện được cảm xúc thăng
hoa mãnh liệt trong
tâm hồn của người nghệ sĩ lại vừa hội tụ những
vẻ đẹp của
nghệ thuật ngôn từ. Đây là mối
quan hệ
giữa nội dung
và hình thức
của thơ ca.
|
0,5
|
|
* Bàn luận: Đây là một nhận
định đúng đắn,
sâu sắc, nêu lên được đặc trưng của thể loại thơ ca.
- Đặc trưng văn học: mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất về nội dung và hình thức.
- Đặc trưng của thơ với tư cách là một thể loại trữ tình: Thơ là tiếng nói của tình cảm. Cảm xúc trong thơ phải luôn được khơi nguồn từ hiện thực cuộc sống. Thơ ca chỉ có giá trị khi không tách rời, thoát li khỏi cuộc sống, nhưng thơ ca cũng như không
photocopi cuộc
sống một cách
cứng nhắc, khuôn
mẫu mà nhà thơ
|
1,0
|
|
|
viết về cuộc sống
bằng cảm xúc, bằng ngôn ngữ thi ca, bằng cả “khoảng trắng giữa các ngôn
từ”.
- Thơ mặc dù bắt nguồn từ cuộc đời, từ
cảm xúc trong tâm hồn của người nghệ
sĩ. Đây là yếu tố
rất quan trọng
của thơ ca. Nhưng
nghệ thuật lại là yếu tố làm cho thơ trở nên
đẹp đẽ, gieo
vào lòng người đọc những cảm
xúc thẩm mĩ tuyệt vời. Để viết nên những vần thơ có sức lay động thực sự, nhà thơ phải vừa có tài
năng và tâm huyết, vừa
đắm mình vào
cuộc đời, vừa
không ngừng tìm
tòi khám phá, “khơi
những nguồn chưa
ai khơi”. Phải
có những rung động mãnh liệt trước
cuộc đời và những khám
phá, sáng tạo độc
đáo ta mới có
thơ ca chân chính.
|
|
|
*
Chứng minh: Học sinh biết chọn lọc, phân tích những bài thơ “Thị trấn bên kia sông” của tác giả
Lương Kim Phương để làm sáng tỏ vấn
đề một cách
thuyết phục, rõ ràng về
đặc trưng của thơ:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
- Bài thơ được viết lên từ mảnh đất màu mỡ của hiện thực đời sống.
+ Hiện thực
đời sống trong
bài thơ là cuộc sống
lao động vất vả,
hối hả chốn bến sông gắn với những chuyến phà vội (chuyến phà cuối cùng/chen chúc người
đi/chị xe thồ chen lấn được chỗ đứng cuối đuôi phà rơi cả gánh rau xuống
sông/anh chở rươi ra thành phố bán làm bắn tung toé vào đám người vì quá
vội…)
+ Hiện thực đời sống trong bài thơ là
những người con quê hương sống nghĩa tình, gắn bó (ngày mai cây cầu được khánh thành bắc qua
thị trấn/có phải người ta thường tiếc nuối khi không thể quay trở lại thời
gian/có bà lão nhớ thời con gái đạp xe vội kịp chuyến phà ra thành phố trọ
học xa nhà/có ông lão chống gậy bồi hồi nhớ sông dù đang đứng trước nó/ chàng
trai năm xưa đã đi khắp thế gian chưa thấy dòng sông nào có những buổi chiều
lấp lánh lạ thường hơn thế)
+ Hiện thực đời sống trong bài thơ là những
kỷ niệm đẹp một thời niên thiếu
(kỷ niện
trên cánh đồng đồng hoa ngô bên bờ sông của cô gái bé nhỏ/ kỷ niệm những
chiều câu cáy, nướng khoai, tắm truồng của chàng trai năm xưa…)
- Nhà thơ Lương Kim Phương không sao chép, mô phỏng hiện thực đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn từ độc đáo:
+ Thể thơ
tự do, cách
chia khổ, cách
ngắt nhịp linh hoạt, sáng tạo.
Cả bài thơ không có dấu chấm,
có những câu thơ kéo
dài phù hợp với việc diễn tả dòng cảm xúc miên man xa vắng của người con
quê hương nhớ
về những chuyến phà vội đã
qua, vừa diễn tả suy
|
2,0
|
|
|
ngẫm về nhịp sống
lao động nhọc nhằn, hối hả, chen chúc của người dân quê mình.
Những câu thơ ngắn vừa
hoảng hốt giật
mình khi trở về hiện tại đang đứng trên chuyến phà cuối.
+ Hình
ảnh thơ bình dị,
gần gũi thân
thuộc.
+ Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên,
chân thành; sử dụng dòng hồi tưởng và hiện tại trong mạch cảm xúc, nhiều biện pháp nghệ thuật đặc
sắc. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm và miêu tả, tự sự … đã thể hiện tình cảm xúc động
của tác giả trước sự đổi
mới của “Thị trấn
bên kia sông”
vừa thể hiện
tình cảm yêu mến, gắn bó với
cuộc sống lao động bình
dị, tần tảo của quê hương
mình.
|
|
|
* Đánh
giá, mở rộng:
- Đối với người làm thơ: Thơ ca là nơi giãi bày cảm xúc, là nơi người nghệ sĩ được sống với cái tôi của chính mình, nơi họ cảm thấy sự nồng nàn, ấm áp của hơi thở cuộc sống và thơ ca là nơi người nghệ sĩ được thỏa sức khám phá giới hạn sáng tạo nghệ thuật của mình. Nhà thơ phải bám rễ vào cuộc đời và trân trọng “nghệ thuật” mới vun đắp những vần thơ như những “Cái cây sống nhờ đất mà đơm hoa kết trái, hoa trái”.
- Đối với người đọc thơ: Thơ ca chân chính không phải là một loại hình nghệ thuật mang tính chất giải trí đơn thuần. Song hành cùng các tác phẩm văn học nói chung, thơ ca mở ra những ngả đường hướng con người tới cõi chân- thiện – mĩ. Thơ ca đích thực phải là thơ ca khơi dậy những rung động sâu sắc trong tâm hồn con người, làm phong phú thế giới cảm xúc của con người, khiến con người vươn tới ước mơ sống tốt hơn, đẹp hơn.
- Đối với cuộc đời: Ban đầu thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống, qua lăng kính cảm nhận của thi nhân, nhưng cuối cùng thơ ca lại trở về với đời, tạo dòng chảy trong trái tim người thưởng thức, để làm
cho cuộc
đời cũng đẹp đẽ và rực rỡ như thơ.
|
0,5
|
|
d. Chính tả, ngữ pháp:
Đảm bảo quy tắc chỉnh
tà, dùng từ,
đặt câu, diễn đạt trong
sáng, lời văn có hình ảnh, giàu cảm xúc.
|
0,25
|
|
e. Sáng
tạo: Có suy
nghĩ mới mẻ, sâu
sắc về vấn
đề nghị luận.
|
0,25
|
|