Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Hawksfoot
1973 - Phil Greenwood
Song
Khánh
Trạng
thái chồng chập của thi ảnh
Bằng ngôn ngữ thi ca, các
nhà thơ kiến tạo một trường khả năng, nơi hình ảnh vừa là hạt cụ thể, vừa là
sóng lan tỏa, mở ra không gian giao thoa giữa vật lý hiện đại và cảm quan nghệ
thuật.
Trong cơ học lượng tử,
một hạt tồn tại ở nhiều trạng thái cùng lúc cho đến khi bị đo đạc. Thơ Mai Văn
Phấn vận hành theo nguyên lý tương tự. Bài “Con Chào Mào” mở ra bằng hình ảnh
một sinh thể xác định: “Con chào mào đốm
trắng mũ đỏ/ Hót trên cây cao chót vót”. Con chim là một “hạt” hoàn hảo với
đặc điểm nhận dạng và vị trí cụ thể. Nhưng tiếng hót của nó là “sóng”: “triu...uýt... huýt... tu hìu...”, một
dao động âm thanh lan truyền, vô hình. Khi chủ thể “vội vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ” để bắt giữ cái đẹp, đó là nỗ lực đo
đạc, làm sụp đổ trạng thái chồng chập. Và khi ý đồ sở hữu buông bỏ, kỳ diệu
thay: “Chẳng cần chim lại bay về/ Tiếng
hót ấy giờ tôi nghe rất rõ”. Sự từ bỏ đo đạc cho phép tiếp nhận bản chất
sóng thuần khiết.
Nguyễn Quang Thiều, trong
“Đố ai tìm thấy tôi ở đây”, tạo ra
một chồng chập thời gian: “Cô bé Hạnh
Nguyên mỉm cười/ Ngắm người đàn bà và người đàn ông/ Sẽ sinh ra cô/ Đang chạy
trốn”. Một thực thể từ tương lai quan sát cha mẹ mình trong quá khứ, tạo
nên trạng thái vướng víu giữa các lớp thời gian. Câu thơ “đố ai tìm thấy tôi ở đây” trở thành nguyên lý bất định của sự tồn
tại, vị trí của một linh hồn trong dòng chảy thời gian là bất khả xác định.
Trong “Tiếng vọng”, ông
viết: “Đêm đêm tôi vừa chợp mắt/ Cánh cửa
lại rung lên tiếng đập cánh”. Những quả trứng chim sẻ không nở trong cơn
bão “lăn vào giấc ngủ/ Tiếng lăn như đá
lở trên ngàn”. Những khả năng bị triệt tiêu vẫn có năng lượng, vẫn gây áp
lực lên hiện thực. Thế giới của những hàm sóng chưa sụp đổ có thể xuyên hầm
lượng tử, vượt qua rào thế phân cách để gây nhiễu loạn trực tiếp lên thực tại
vật lý.
Sự
sụp đổ hàm sóng trong tương tác đọc
Khi người đọc tiếp xúc
với văn bản, hàm sóng ngôn ngữ “sụp đổ” thành một trải nghiệm cụ thể. Trần Lê
Khánh, với thơ tối giản đậm chất thiền, tạo ra những “hạt” chữ đặt trong “trường”
im lặng bao la. Bài “Sau Sân Chùa”: “gió/
nhặt tiếng lá rơi/ muôn đời/ còn sót lại”. Động tác “nhặt” của gió biến
tiếng lá rơi thành một vật chứng được lưu giữ. Khoảnh khắc phù du được nâng lên
thành vĩnh cửu. Mỗi lần đọc, người đọc thực hiện một phép đo thẩm mỹ, làm sụp
đổ bài thơ thành một “hiện thực” ý nghĩa riêng biệt.
Bài “Câu Chuyện 9”: “nhà sư đi giữa bụi trần/ nắng vàng nằm lót
bàn chân trên đường”. “Bụi trần” là
thứ làm cong không thời gian. “Nắng vàng”,
ánh sáng trí tuệ trở thành lớp nền nâng đỡ từng bước chân. Khi đọc, ta buộc
phải lựa chọn một cách hiểu về mối quan hệ giữa bụi trần và nắng vàng, nhưng
bài thơ vẫn duy trì trạng thái chồng chập của nhiều khả năng diễn giải.
Nguyễn Duy, trong “Ánh
trăng”, xây dựng biểu tượng mang lưỡng tính sóng-hạt. Ánh trăng vừa là “hạt” cụ
thể, “tròn vành vạnh”, “đột ngột”
hiện ra như vật thể; vừa là “sóng” lan tỏa, gợi nhớ và kết nối. Khi sống trong
thế giới “ánh điện cửa gương”, trăng chỉ là “người dưng”, một hạt vô nghĩa. Khi
hệ thống ánh sáng nhân tạo sụp đổ (“thình
lình đèn điện tắt”), trong bóng tối và cô độc, ánh trăng bộc lộ tính chất
sóng, giao thoa với trường ký ức: “Ngửa
mặt lên nhìn mặt/ có cái gì rưng rưng/ như là đồng là bể/ như là sông là rừng”.
Cách bố trí “thí nghiệm” (trạng thái tâm linh) quyết định thực thể biểu hiện
tính chất nào.
Trường
liên kết phi định xứ
Vướng víu lượng tử cho
thấy hai hạt có thể kết nối tức thời bất chấp khoảng cách. Nguyễn Quang Thiều,
trong “Thư gửi mẹ”, tạo ra một vướng víu cảm xúc xuyên thời gian. Người con đã
hy sinh không biến mất: “Con không chết,
con chỉ không lớn nữa”. Anh tồn tại trong trạng thái đặc biệt, vẫn hiện
diện trong khoảnh khắc đời thường: “Ngồi bên mẹ xòe tay hơ trước lửa”, vẫn cảm
nhận “Niêu tép mẹ kho suốt đời không thể
nguội”. Một sự thay đổi trong tâm lý người mẹ lập tức ảnh hưởng đến sự hiện
diện của người con trong thế giới song song đó.
Bài “Những con cá ướp” là
một minh chứng khác về trường liên kết: “những
hạt muối chứa đầy ký ức biển”. Muối trở thành phương tiện lưu trữ thông tin
hoàn hảo, ghi lại toàn bộ mã nguồn của đại dương. Và tư duy thi ca kích hoạt: “những con cá ướp/ phun chảy những dòng
trứng/ nở ra những con cá/ trong dòng hải lưu suy tưởng bất tận của tôi”. Suy
tưởng trở thành một môi trường sống, một dòng năng lượng có khả năng nuôi dưỡng
và tái sinh sự sống từ ký ức. Quá khứ được hồi sinh trong hiện tại nhờ năng
lượng của ý thức.
Mai Văn Phấn, trong “Ảo
Ảnh Tháp Chàm”, xóa nhòa ranh giới giữa các thực thể: “Có một Tháp Chàm khác nữa/ Là em nghiêng búp tay thon/ Dắt anh từ hoa
văn rêu phủ/ Qua nghìn năm vang bóng những linh hồn”. Cơ thể người phụ nữ
và kiến trúc Tháp Chàm chồng lấn, trở thành hai biểu hiện của cùng một thực thể
vừa vật chất vừa tâm linh. Cá thể trở thành điểm giao thoa cho các sóng lịch sử
và linh hồn tập thể.
Sự
tự bộc lộ của thực tại
Trong vật lý, vũ trụ vận
hành bằng sự uốn cong không thời gian không có lực hút từ xa, chỉ có sự chuyển
động tự nhiên trong cấu trúc bị biến dạng. Mặt trời không cố gắng hút trái đất;
nó chỉ tồn tại, và sự tồn tại ấy làm cong không gian. Trái đất không gắng sức;
nó lăn theo độ cong tự nhiên. Đó là “Vô vi” ở quy mô lớn nhất.
Trần Lê Khánh, với cảm
quan thiền định, kiến tạo những bài thơ như một trường tĩnh lặng để thực tại tự
bộc lộ. Bài “Vô Vi”: “ở nơi gió lộng/ em,
loài hoa dại mùa/ tôi rạp mình theo cỏ”. Con người không còn chống lại
thiên nhiên, mà “rạp mình theo cỏ”, hòa tan vào sự vận động tự nhiên. Đây là sự
từ bỏ cái tôi cá nhân để trở thành một phần của cái toàn thể.
Mai Văn Phấn, trong “Đá
Trong Lòng Suối”, mang tinh thần “Vô vi”: “Lặng
yên cho nước chảy/ Xối xả lâu lạnh toát mình đá”. “Lặng yên” là mệnh lệnh nội tâm, sự chủ động đạt tới thụ động hoàn
hảo. Viên đá không chống cự dòng chảy thời gian, buông mình cho nó xuyên thấu
để đạt trạng thái cân bằng tuyệt đối.
Nguyễn Duy, trong “Ngồi
buồn nhớ mẹ ta xưa”, thể hiện sự hòa tan cái tôi vào dòng chảy văn hóa: “Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi
hết mấy lời mẹ ru”. Lời ru không phải là trường năng lượng nuôi dưỡng: “Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn”.
Khi nhà thơ để mình được “nuôi” bằng lời ru, thay vì cố gắng phân tích hay
chiếm hữu nó, thực tại văn hóa tự bộc lộ chiều sâu. Đó là thái độ vô vi trước
di sản: để nó tự vận hành qua mình. Câu hỏi cuối bài “Liệu mai sau các con còn nhớ chăng” vừa là nỗi lo âu, vừa là lời
nhắn nhủ về trách nhiệm gìn giữ, nhưng gìn giữ bằng cách để những giá trị ấy tự
sống, tự truyền qua thế hệ, như dòng sông tự chảy.
Mỗi bài thơ là một hàm
sóng chưa bao giờ ngừng dao động. Trong vũ điệu bất tận giữa sụp đổ và tái lập,
thơ ca trở thành một phần của cơ chế vận hành thế giới, nơi ngôn từ và ý thức
cùng nhau kiến tạo hiện thực.
S.K
(Nguồn:
Văn nghệ Công an)