Sông chảy trong lòng sông
(Đọc
tập thơ “Thường xuân” của Nguyễn Hoàng Anh Thư, NXB Văn Học, 2026)

Nhà
thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư
Mai Văn Phấn
“Bên
trong những chiếc lá đựng ánh sáng màu xanh
Bên
trong và bên trong nữa
Tiếng
nhựa cây đang chảy”
N.H.A.T
Trong nghệ thuật ngôn từ,
thơ ca tác động vào chiều sâu nội tâm con người bằng một phương thức đặc thù,
vừa hướng nội vừa mở ra khả năng vọng nghe từ bên ngoài. Tiếp cận tập thơ
Thường xuân của Nguyễn Hoàng Anh Thư, NXB Văn Học, 2026, tôi như bị cuốn vào một
không gian nghệ thuật mang tính nghịch lý, một thế giới được kiến tạo bởi những
lực đối cực, nơi động và tĩnh giao hòa, kết tụ thành một chỉnh thể sống động.
Trong không gian hai mặt
ấy, dòng đời cuộn chảy, mang theo những đổi thay khó lường. Đối ứng với nó là
khoảng lặng bên trong, nơi tâm hồn trú ngụ, giúp con người không bị cuốn trôi.
Đó là phần sâu kín gìn giữ bản chất nguyên sơ của cái tôi trữ tình.
Sự va chạm giữa hai trạng
thái đối lập tạo nên trục vận động xuyên suốt tập thơ, nơi ngoại cảnh luôn biến
đổi, không ngừng đối thoại
và phản chiếu với nội tâm. “sông
vẫn chảy trong lòng sông lặng lẽ/ nghe tiếng sông và tiếng nước lặng im”
(Thấu thị của nhà thơ). Nguyễn Hoàng Anh Thư đã đưa hành trình nhận thức bản
thân đến một điểm hội tụ mang tính dung hòa. Khi ranh giới giữa cái tôi và thế
giới dần mờ đi, thế giới không còn phân mảnh mà trở nên gắn kết, vận hành theo
quy luật tự nhiên. Cái tôi trữ tình chọn thái độ khiêm nhường và buông bỏ, từ
đó chạm tới một trạng thái tự do tinh thần. Ở tầng chiều sâu thẩm mỹ, cái nhỏ
bé và cái vô cùng hòa nhập làm một.
“Thế
giới này là một bức tranh/ đang thở/ tôi là hạt sương/ nhỏ bé/ đang trôi” (Hạt sương nhỏ bé). Vị thế của một hạt
sương tan vào thiên nhiên chính là khoảnh khắc thức ngộ. Cái tôi không còn co
cụm hay phản kháng trước đời sống hiện đại, mà chủ động buông bỏ, hướng tới
trạng thái vô ngã. Sự trôi đi lặng lẽ thực chất là một chuyển động nội tại của
ý thức, tích tụ nguồn sinh lực tinh khiết, nuôi dưỡng sắc xanh “Thường xuân”
trước mọi thử thách.
Trước khi chạm tới chiều
sâu nội tâm, Nguyễn Hoàng Anh Thư buộc người đọc phải đi qua một lớp thực tại khó
thể né tránh, thô ráp, ngột ngạt và đầy bạo lực. Thực tại hiện lên như một dòng
chảy dồn nén những va đập của đời sống. Nhà thơ đi thẳng vào không gian đô thị ồn
ã, bức bối, nơi con người bị bao vây bởi vật chất và sự chai lì cảm xúc. Trong
bối cảnh ấy, hiện thực bị đẩy lệch khỏi trung tâm trải nghiệm, con người bị
tách khỏi chính mình và đánh mất dần khả năng kết nối với thế giới.
“Bê
tông cốt thép/ Những rình rập không còn bản năng, ngập tràn toan tính/ Những
gương mặt quái vật với những móng vuốt hơn thua” (Lời của cú mèo). Cái ác hiện lên như lạnh
lẽo và vô cảm. Con người bị biến dạng, đánh mất bản năng nguyên sơ, thay vào đó
là cách tồn tại dựa trên tính toán và đối kháng. Khổ thơ gợi nỗi bất an về bản
chất con người, khi đời sống trở thành không gian giam hãm, mỗi cá thể vừa là
nạn nhân vừa bị cuốn vào vòng xoáy tha hóa.
Sự biến động của dòng
sông ngoại giới cũng là nỗi ám ảnh về dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, hiển
lộ những đứt gãy của thời đại. Nỗi sợ ấy từ cá nhân mở rộng ra thế giới: “Một nơi nào đó đang có chiến tranh/ Thời
gian đang sôi sùng sục/ Một nơi nào đó có tiếng kêu gào trong đám cháy/ Có quá
nhiều thứ đang bốc hơi” (Thư gửi anh). Thời gian như một lực hủy diệt dữ
dội, cuốn xoáy và thiêu đốt, đẩy mọi giá trị đến bờ tan rã. Cái nhìn thi ca
vượt khỏi phạm vi cá nhân, chạm tới nỗi lo hiện sinh mang tính phổ quát, giúp
con người ý thức rõ hơn về giới hạn và sự bất lực của mình trước dòng chảy dữ
dội của đời sống hiện đại.
Trong thế đối lập của
ngoại giới, Nguyễn Hoàng Anh Thư đồng thời tạo nên một “lòng sông lặng lẽ” như một không gian nội tâm, đóng vai trò điểm
tựa để giữ cân bằng trước sự đổ vỡ của thực tại bên ngoài. Đó là chốn ẩn trú,
nơi con người điều hòa và chuyển hóa trải nghiệm. Chiều sâu nội tâm ấy được thể
hiện qua hình tượng cây thường xuân. Trong bối cảnh hiện thực bế tắc, thường
xuân trình hiện một sức sống bền bỉ, đồng thời gợi ra khả năng tự hồi sinh
trước mọi áp lực. “Cây thường xuân thường
mọc muộn/ (Vì mỗi khi bế tắc/ chúng ta mới nghĩ về thường xuân)/ Nó có hình
dáng như thế nào nhỉ?” (Thường xuân). Thường xuân không mọc trên những bề
mặt bằng phẳng. Nó bám vào những vết nứt của tường, len qua những vết thương
của đời sống; và chính vì thế, sự sinh trưởng của nó trở thành một hành vi lựa
chọn, mang ý nghĩa tồn tại.
Không
phải ngẫu nhiên khi tác giả
chọn “Thường xuân” làm nhan đề cho tập
thơ. “Thường xuân” là một căn
cước tinh thần, là tuyên ngôn thẩm mỹ, nơi Nguyễn Hoàng Anh Thư gửi gắm
khát vọng về một sức sống xanh bền bỉ. Đối lập với sự khô cứng và vô cảm của
thực tại, sắc xanh ấy trở thành biểu tượng của sự thích nghi và sinh tồn.
Đó cũng là hình ảnh của cái tôi tự chữa lành, lặng lẽ bám rễ vào chính những tổn thương, biến đau đớn thành sinh lực sống.
“Bài
thơ thành những đốm nâu trên da/ Như là gương mặt của rừng già/ Lốm đốm nâu
trên da/ Là nắng/ Đã xuyên qua những tán lá đã bị chúng ăn/ Là ánh sáng đã đi
xuyên qua bài thơ/ Trong một ngày trời đẹp” (Hươu cao cổ). Từ những đứt gãy, ánh sáng vẫn xuyên qua và
làm hiển lộ thế giới trong một trạng thái khác, giúp con người nhận ra cái đẹp
ngay trong và sau những đổ vỡ. Thơ ca vì thế hiện lên như một cơ thể sống, biết
hấp thụ, chuyển hóa và hồi sinh, trả lại cho đời nguồn sinh khí mới, lặng lẽ và
bền bỉ.
“Mưa
xuân bất chợt/ Hỏi về bài thơ/ Bài thơ có xôn xao mưa lá?/ Người bất chợt hỏi
về chiêm bao” (Mưa
xuân). Thơ ở đây trở thành một câu hỏi mở về cách con người cảm nhận thế giới
xung quanh. Thực tại hiện ra trong trạng thái mong manh, chập chờn giữa thực và
mộng, nơi ranh giới giữa cảm giác và ý niệm dần nhòa đi. Chính sự không chắc
chắn ấy mở ra một không gian đối thoại, nơi con người không tìm kiếm lời giải
rốt ráo mà chạm tới trực cảm như một thức nhận.
“Bài
thơ/ Hơi thở/ Đời sống/ Đan vào từng khớp xương/ Thời gian răng rắc/ Đời sống/
Bài thơ/ Hơi thở/ Đan vào từng vết thương/ Đi qua ranh giới sự điên rồ/ Hơi
thở/ Bài thơ/ Đời sống....”
(Thật sự chúng ta muốn gì ở bài thơ?). Sự lặp lại của ba yếu tố cho thấy mối
liên kết chặt chẽ giữa thơ, con người và đời sống. Đó là một hành trình dốc cạn
bản thân để tạo ra tác phẩm nghệ thuật. Ranh giới giữa người viết, tác phẩm và
hiện thực dần bị xóa nhòa; tất cả hòa vào một chỉnh thể thống nhất. Nhịp thơ
ngắt quãng gợi những cơn co thắt đau đớn, như một quá trình sinh nở, nơi người
viết trực tiếp trải nghiệm tổn thương. Từ đó, nhà thơ vượt qua giới hạn mong
manh của trạng thái tồn tại.
Bên cạnh đó, “lòng sông” tĩnh
lặng còn được bồi đắp bởi ký ức, nơi lưu giữ không gian Huế cổ kính hòa quyện cùng hơi ấm gia đình, tạo
thành mạch nguồn nuôi dưỡng chiều sâu
cảm xúc. Khi viết về Huế, nhà thơ không chỉ tái hiện không gian địa lý
mà còn nâng nó lên thành một vùng tâm
thức trầm mặc. Không gian ấy trở thành một ký hiệu thẩm mỹ, nơi hiện thực và ảo mộng giao thoa: “Huế mở ra bồng bềnh/ Một trang sách cổ/ Cửa
Ngăn khuy áo hờ phía gió/ Thổi thời gian vào vạt áo sờn/ Tiếng vó ngựa tan thật
nhỏ/ Li ti tàn lá/ Mùa xuân thật mỏng mù mây/ Giọng Nam Ai tha thiết/ Khúc mây
Tử Dạ” (Dấu triện màu mây). Thời gian hiện ra như làn sương mỏng, thấm vào từng chi tiết nhỏ, khiến cảnh
vật và con người tan hòa vào nhau trong
một trạng thái nhẹ bẫng mà sâu lắng. Nhịp thơ chậm rãi, trầm sâu, gợi chiều kích cổ kính nhưng vẫn ngân lên một dư âm không dứt. Giữa
dòng chảy ồn ào của thực tại, không gian Huế trong thơ Anh Thư mở ra một miền trú ngụ tĩnh tại, tinh tế, trầm lắng
và giàu sức ám gợi.
“Hôm
qua mơ thấy người gánh Huế/ Một đầu phố cũ/ Một đầu sông/ Sông rất sông/ ừ thì
sông/ chảy đến vô cùng/ Sông chảy ngang trời/ ai gọi Huế/ vọng đáy sương khuya/
trắng lối về/ Ai gánh nỗi buồn đi hộ Huế?” (Gánh Huế trong mơ). Sự kết hợp giữa hình ảnh gánh nặng
đời người và dòng sông Hương trôi mãi đã làm nổi bật biểu tượng “sông chảy trong lòng sông”. Là người
con xứ Huế, Nguyễn Hoàng Anh Thư gắn trải nghiệm sống với tư duy nghệ thuật,
hòa mình vào đời sống tinh thần của cố đô. Tiếng gọi vọng lên trong sương khuya
là lúc ranh giới giữa tỉnh thức và miên mộng, giữa bên ngoài và bên trong bị
xóa nhòa.
Giữa nhịp sống đô thị
quay cuồng, một Huế trầm lắng hiển lộ
như một khoảng yên tĩnh nằm ở tâm điểm
của xoáy động. Hình ảnh “gánh” cả một vùng văn hóa qua làn sương là một lựa chọn ý thức của chủ thể sáng tạo,
tự nguyện mang theo những trải nghiệm, chắt
lọc và lắng đọng ký ức, để giữ lại một Huế tinh khiết, giàu chất thơ và bền bỉ trong chiều sâu cảm thức.
Từ điểm tựa này, Nguyễn
Hoàng Anh Thư đưa hình ảnh Huế vào những liên tưởng hiện đại. Tiếng Nam Ai như
thấm vào vết thương, tiếng vó ngựa Kinh thành vang động như nhịp gãy của thời
gian, còn ánh trăng cố cung trở nên mong manh, dễ tan vỡ. Huế hiện ra như một
ký ức sống, vừa đẹp vừa day dứt, mang dấu ấn của lịch sử và hiện tại. Nhà thơ
sẻ chia nỗi đau của xứ sở trong một cách dâng hiến thầm lặng.
Tác giả “Thường xuân” sử
dụng nhất quán bút pháp siêu thực. Trong thơ chị, những khái niệm trừu tượng
không còn xa vời mà trở nên cụ thể, có hình dạng, có cảm giác, có thể chạm vào
được: lời nói có thể đông cứng rồi tan chảy, niềm tin có thể biến đổi trạng
thái, nỗi buồn hiện ra thành hình khối sắc nhọn. Nhờ vậy, thế giới nội tâm hiện
lên trước mắt người đọc như một thực thể sống. “Cô bắt đầu tập ăn tóc/ Cô bắt đầu ăn từ những ngọn khô giòn quá lưng/
Cô ăn mỗi ngày/ Chúng có mùi vị của nắng cháy và rụm rụm của từng sợi buồn xào
giòn/ Chiều chiều cô lại tựa vào chiếc ghế cũ thong thả ngồi ăn nỗi buồn từ
ngọn tóc chết” (Ăn Tóc). Nỗi buồn ở đây được vật thể hóa triệt để, không
còn là cảm giác mà trở thành thứ có thể nếm, có thể ăn, có thể làm no đầy. Đó
là cách tự chữa lành mang tính nghịch lý, không né tránh mà nuốt lấy đau đớn,
chuyển hóa nó thành ý nghĩa của sự sống. Siêu thực, vì thế, không chỉ là một kỹ
thuật biểu đạt, mà là con đường tất yếu để diễn đạt những gì ngôn ngữ thông
thường bất lực. Khi ranh giới giữa bên trong và bên ngoài dần bị xóa mờ, hiện
lên một con người vừa mong manh vừa bền bỉ, luôn tiếp nhận và tự chuyển hóa.
Sự kết hợp siêu thực còn
thể hiện rõ qua những liên tưởng táo bạo: “Một
con bướm đêm vừa uống hết ánh trăng” (Lạc vào bình minh), hay “con mắt nhìn vào trong/ như rễ cây/ chui
qua xương sọ” (Thấu thị của nhà thơ). Dòng chảy vô thức ở đây phá vỡ mọi
ranh giới giữa cá nhân và vũ trụ.
Nguyễn Hoàng Anh Thư ý
thức rõ về vai trò của mình như một người “thấu thị”, chấp nhận đau đớn để tạo
ra câu chữ. Chị nhìn nhận bài thơ như một thực thể phải trải qua tổn thương để
có sự sống mới. Bài thơ chính là “lòng
sông lặng lẽ” trên trang viết, nhưng khi chạm đến người đọc, nó giải phóng
cảm xúc và tạo ra sự đồng cảm sâu sắc. Đó là giá trị cứu rỗi của nghệ thuật.
Tuy vậy, cách tân của “Thường
xuân” cũng đặt ra thách thức cho người đọc. Việc đẩy mạnh yếu tố siêu thực và vật
chất hóa dày đặc các ý niệm trừu tượng đôi khi khiến mạch thơ khó tiếp cận. Ở
một số đoạn, yếu tố triết luận và thuật ngữ hiện đại làm giảm sự mềm mại của
cảm xúc. Tuy nhiên, đó cũng là giới hạn tự nhiên của một lối đi riêng đầy cá
tính.
Với sự kết hợp giữa đối
lập và bút pháp siêu thực, Nguyễn Hoàng Anh Thư đã khẳng định dấu ấn riêng
trong thơ đương đại, để lại dư âm sâu lắng, nơi những điều tưởng như im lặng đã
cất tiếng.
Nghệ thuật, ở chiều sâu,
luôn gợi mở những câu hỏi, buộc con người tự nhìn lại và đối thoại với chính
mình. “Thường xuân”, vì thế, giống như một sinh thể, không ngừng tự mở rộng giá
trị thẩm mỹ. Khi đời sống vẫn cuộn chảy dữ dội, “Thường xuân” nhắc ta rằng ở
tâm điểm của mọi xoáy động, vẫn có một lòng sông lặng lẽ, nơi ngôn từ kết tụ thành
mầm sống, âm thầm và bền bỉ.
Hải Phòng, 22/6/2026
M.V.P
