Về bài thơ “Hồi sinh” của Mai Văn Phấn (bình thơ). Thiện Lạc – Trần Quốc Thường
Về bài thơ “Hồi sinh” của
Mai Văn Phấn

Thiện
Lạc – Trần Quốc Thường
LTS – Tôi biết và đọc thơ
của Mai Văn Phấn gần đây, phong cách viết của anh hiện đại. Bài thơ “Hồi sinh”
tôi yêu thích đã đề xuất trên Diễn đàn Văn nghệ Thái Nguyên. Nay tôi xin có vài
lời về bài thơ này.
HỒI SINH
(Mai Văn Phấn)
Cùng
rền rĩ trong mê man cơn sốt
Cho
tầng lá già lênh đênh chưa kịp mục
Cho
bén rễ vào thịt da những mùa ngũ cốc
Nước
mắt ban mai trổ những đòng đòng.
Trên
ngực bùn nâu đã linh thiêng ban lộc
Máu
hồi sinh rần rật chạy qua
Thấy
nghĩa địa lặn đi thành vết sẹo
Thấp
thoáng người xưa tỉnh lại cấy cày.
Và
nhảy múa với các hình nhân bện bằng rơm rạ
Sống
động không gian chất ngất ngày mùa
Tôi
gượng dậy giữa cánh đồng rộng lớn
Có
con nước cường chảy dọc sống lưng.
(Rút từ tập thơ “Nghi lễ nhận tên”, NXB
Hải Phòng, 1999)
Bài thơ “Hồi sinh” của
Mai Văn Phấn là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ hậu hiện đại Việt
Nam, nơi ngôn ngữ không kể chuyện theo tuyến tính mà kiến tạo một thế giới biểu
tượng, giàu liên tưởng và đa tầng ý nghĩa.
Điều đặc sắc trước hết là
cảm thức hồi sinh của vũ trụ và con người hòa làm một. Ngay câu mở đầu: “Cùng rền rĩ trong mê man cơn sốt” ta
thấy không xác định chủ thể. Đó có thể là đất, cây, con người hay cả thiên
nhiên đang chuyển mình sau một cơn đau lớn. Chính sự mơ hồ ấy tạo nên không
gian đa nghĩa rất đặc trưng của thơ hậu hiện đại.
Những câu thơ:
“Cho
tầng lá già lênh đênh chưa kịp mục
Cho
bén rễ vào thịt da những mùa ngũ cốc...”
đã đảo ngược quan hệ
thông thường giữa con người và cây cỏ. Rễ không chỉ cắm vào đất mà bén vào “thịt
da”, khiến con người trở thành một phần của thiên nhiên. Đó là quan niệm sinh
thái rất hiện đại: con người và đất đai là một sinh thể thống nhất.
Đặc biệt là hình ảnh:
“Nước
mắt ban mai trổ những đồng đồng.”
là một sáng tạo ngôn ngữ
đầy ám ảnh. “Nước mắt” không còn là biểu tượng của đau thương mà hóa thành mưa
sớm, thành nguồn sống, làm bật lên những cánh đồng xanh tốt. Ở đây nỗi đau đã
nở hoa thành sự sống.
Đến khổ thơ thứ hai, chất
huyền thoại càng đậm nét hơn
“Máu
hồi sinh rần rật chạy qua
Thấy
nghĩa địa lặn đi thành vết sẹo”
“Nghĩa địa” không mất hẳn
mà chỉ còn là “vết sẹo”. Vết sẹo là dấu tích của đau thương đã được chữa lành.
Đây là một hình tượng giàu triết lý, đó là quá khứ đau thương không bị xóa bỏ
nhưng được vượt qua để hướng tới sự sống.
Hình ảnh:
“Thấp
thoáng người xưa tỉnh lại cấy cày”
không phải sự sống lại
theo nghĩa siêu nhiên mà là sự tiếp nối của truyền thống, của ký ức và lao
động. Những thế hệ đã khuất vẫn hiện diện trong mỗi mùa vụ, trong từng hạt lúa
và mảnh đất quê hương.
Khổ cuối đã đưa mạch thơ
lên cao trào:
“Và
nhảy múa với các hình nhân bện bằng rơm rạ...”
Hình nhân vốn vô tri bỗng
mang linh hồn, cùng con người hòa vào lễ hội mùa màng. Ranh giới giữa thực và
ảo, sống và chết, người và vật đều được xóa nhòa là một thủ pháp rất đặc trưng
của thơ hậu hiện đại.
Hai câu kết:
“Tôi
gượng dậy giữa cánh đồng rộng lớn
Có
con nước cường chảy dọc sống lưng”
là điểm kết đầy sức mạnh.
“Con nước cường” vừa là dòng nước của thiên nhiên, vừa là dòng sinh lực đang
trào dâng trong cơ thể. “Sống lưng” trở thành trục nối giữa con người với đất
trời. Cái “tôi” cá nhân không còn cô độc mà hòa nhập vào nhịp vận động của vũ
trụ.
Có thể nói, “Hồi sinh”
không miêu tả sự hồi sinh mà làm cho sự hồi sinh diễn ra ngay trong ngôn ngữ.
Câu thơ giàu nhạc tính, hình ảnh liên tục dịch chuyển, biểu tượng chồng lên
biểu tượng, mở ra nhiều tầng diễn giải. Đó chính là nét tiêu biểu của thơ Mai
Văn Phấn: ít kể, nhiều gợi; ít lý giải, nhiều ám ảnh; lấy liên tưởng và biểu
tượng để đánh thức cảm nhận của người đọc.
Bài thơ vì thế không chỉ
ca ngợi sức sống của thiên nhiên sau một chu kỳ tàn lụi, mà còn gửi gắm một
triết lý nhân văn sâu sắc: mọi đau thương đều có thể trở thành nguồn sinh lực
mới; sự sống luôn tìm được con đường để tái sinh từ chính những gì tưởng như đã
mất.
T.L–T.Q.T
