image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Mai Văn Phấn – Chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn với đạo đức và trí tuệ (chuyên luận – Kỳ II) – Nguyễn Thanh Tâm

Mai Văn Phấn – Chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn với đạo đức và trí tuệ

(Kỳ II)

 

 

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tâm

 

 

Nguyễn Thanh Tâm

 

Maivanphan.com: Năm 2024, Nhà xuất bản Văn học đã ấn hành chuyên luận “Thơ Việt Nam sau 1975 – Diện mạo & Bản sắc” của Tiến sĩ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nguyễn Thanh Tâm. Theo tác giả, cuốn sách không chỉ cung cấp những tri thức mang tính văn học sử hay dừng lại ở việc mô tả diện mạo chủ đạo, khắc họa các bản sắc nổi bật, mà còn góp phần định hình một hệ thống phương pháp và kỹ năng tiếp cận tác giả, tác phẩm thơ, nhất là khi phải đối diện với những văn bản mới, khó, cùng các hiện tượng phức tạp, đặt ra nhiều thách thức đối với việc đọc, học, giảng dạy và nghiên cứu thơ ca đương đại. Cuốn sách được tổ chức theo một cấu trúc học thuật mạch lạc, đi từ khái quát đến phân tích chuyên sâu. Phần mở đầu xác lập bối cảnh lịch sử – xã hội và đời sống văn học sau năm 1975, đồng thời nêu rõ mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Trên nền tảng đó, các chương tiếp theo lần lượt phác họa diện mạo thơ Việt Nam qua các chặng vận động chính từ hậu chiến đến thời kỳ Đổi mới và hội nhập, qua đó nhận diện những khuynh hướng lớn về đề tài, cảm hứng, giọng điệu và thi pháp. Từ bình diện mô tả, công trình tiếp tục đào sâu vấn đề bản sắc của thơ ca Việt Nam sau 1975. Trọng tâm của chuyên luận là Phần Hai, “Thi sĩ đương đại – Những bản sắc chuyển động”, dành để phân tích cụ thể các dòng thơ và các tác giả tiêu biểu như Trương Đăng Dung, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Thúy Hạnh và Mai Văn Phấn. Riêng với Mai Văn Phấn, Nguyễn Thanh Tâm đã dành khoảng 80 trang khảo sát và phân tích, với nhan đề “Mai Văn Phấn – Chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn với đạo đức và trí tuệ”. Được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi trân trọng giới thiệu trọn vẹn bài viết này tới Quý bạn đọc. Do dung lượng bài viết, Maivanphan.com sẽ đăng tải nội dung thành hai kỳ.

Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nguyễn Thanh Tâm!

 

 

(tiếp theo Kỳ I)

 

4. Những tạo dựng không gian trong thơ

 

4.1. Không gian trong ký ức – nơi lưu dấu yêu thương không thể mất

Không gian trong ký ức Mai Văn Phấn là những hình ảnh của hai lần lắng đọng. Lần thứ nhất, đó là những chắt chiu từ chính hiện tại, nơi những gì đang diễn ra, ngay lập tức lùi vào quá khứ. Chú ý thẩm mĩ của nhà thơ, trong cảm niệm về giá trị của mình, lưu giữ không gian gắn với khát vọng hướng đến cái đẹp, sự sống tốt tươi và phong túc. Lần thứ hai, từ những gì đã trượt trôi vào quá khứ, thi sĩ giữ lại, gọi về điều quan trọng nhất, ý nghĩa nhất, làm nên giá trị của cái đã qua, giá trị của hiện tại và nuôi dưỡng những hi vọng dấn bước về tương lai. Như thế, không gian ký ức là không gian của những gì không thể mất đi, còn cất giữ năng lượng cho hành trình của con người trong cõi sống vô lượng, vô biên.

Theo em lạc vào vườn xưa

Nơi các thiên thần đã ngự

Nhớ thương cả lúc anh về

Lòng em cũng thành xứ sở

(Anh về)

 

Đồng đất quê ta hao hao những mặt người

Một sớm dậy nhìn ta thân thiết thế

Người với người như mưa xuân bên nhau.

 

Những hạt mưa ríu rít trên đầu

Đất vạm vỡ dưới bầu trời tươi tốt

Qua vỏ trấu của mùa gặt trước

Đã nảy những đọt mầm tia nắng tinh khôi.

(Tiếng gọi từ những cánh đồng)

 

Có một chiều nao Hà Nội

Cất lên từ ngực biển đầy

Cả dấu chân em ngày ấy

Mắc vào tấm lưới anh vây.

 

Như vừa vang trong lòng tay

Lối cũ động thềm sấu rụng

Tiếng chim treo vào heo may

Trong lá khô rơi còn ấm.

 

Hồ Gươm tựa ngày biển lặng

Tháp Rùa đứng đó buông neo

Mặt người thành mây soi bóng

Nỗi buồn biêng biếc rong rêu.

 

Hà Nội ơi! Một cánh diều

Thả bằng sợi dây thương nhớ

Níu nghiêng cả mặt biển chiều

Nước dâng dạt dào sóng vỗ.

(Nhớ Hà Nội)

 

Vạt cỏ xưa hai đứa mình ngồi, giờ là nền ngôi nhà cao tầng, để anh làm con bướm chập chờn giữa phố, tìm lối ngày nào lạc cánh bay. Khuôn mặt em vừa hiện trong vòm cây sót lại, tán lá đung đưa như bát nước đầy. Anh ướt cánh và dừng chân ở đó.

Gió ở đâu lần về gõ cửa. Anh vội vã vùi cơn mơ vào gối chăn. Thuỵ Khuê đêm nay trăng rằm. Mặt hồ Tây xanh xanh vòm lá. Những bông hoa bèo hay bóng dáng hồn ai vừa đậu, dễ chừng chạm vào là cất cánh bay...

(Đêm ở Thụy Khuê)

 

Có không gian cụ thể được gọi tên (Hà Nội, Hải Phòng, Thụy Khuê, Nghi Tàm, Thăng Long…), cũng có những không gian trừu tượng mang ý nghĩa chung như: làng, cánh đồng, dòng sông, ngôi nhà, khu vườn, xứ sở, nền xưa, lối cũ,… nhưng, dù hiện ra với cách định danh nào, không gian trong ký ức của thi sĩ vẫn là nơi mang đầy kỷ niệm, lưu giữ phần đời sống ý nghĩa đã qua. Nếu không có vùng không gian ký ức ấy, hiện tại sẽ mất đi cội rễ, căn cước của mình. Trên những bước vong thân, cùng với thời gian, không gian ký ức tựa như mặt đất, nơi buộc chặt sợi dây neo giữ cánh diều. Nhìn về không gian ký ức (cũng là nơi hiện diện của thời gian quá khứ), chúng ta có thể hình dung được điểm xuất phát và cả điểm quay về trên hành trình thi sĩ của Mai Văn Phấn. Ra đi từ nơi chốn ấy, luôn nhớ về nơi chốn ấy, để rồi, sau mọi biến động, con người lại trở về với những vùng không gian thiết thân nhất làm nên sự sống của mình. Như thế, không gian đã dịch chuyển từ bình diện vật lý sang bình diện tinh thần – tư tưởng. Được bao bọc bởi hoài niệm, không gian ký ức trở nên bền vững, ít bị tha hóa. Điều đó giúp cho không gian sống của con người có thêm chiều sâu, đồng thời chi phối đến cảm quan không gian hiện tại.

 

4.2. Những không gian nhiễm độc, tha hóa

Có một vùng không gian hiện hình trạng thái tha hóa, bị nhiễm độc từ cuộc sống hiện đại. Cái tôi trữ tình hoang mang, bất an, hướng đôi mắt về phía những tha hóa, nhận ra quang cảnh của cõi sống vẩn lên sắc màu của sự tàn lụi:

... Giờ những anh hùng nghe tiếng gọi u ơ

Mặt người thân nhọc nhằn nấp sau bát mẻ

Tiếng mọt nghiến hoàng hôn khép mở

Viên đạn hạt mưa bắn xiên từ lỗ thủng mái nhà.

 

Nỗi khắc khoải buông vào hừng đông nhện sa

Bàn tay chai sần mong se thành tơ sợi

Giăng mắc đó đây bao giọng nói không đầu không cuối

Những cây rơm u mê, ngớ ngẩn dưới mưa dầm.

 

Ngỡ chiến tranh về theo sau lưng mình

Phòng lạnh cơ quan thoảng mùi thuốc súng

Nọc độc chạy trong công văn, dây điện thoại, bò cả vào vi-tính...

Những dại khờ mắc bẫy dưới bình minh.

 

Lẽ phải vùi chôn trong đơn thư nặc danh

Đồng tiền lật ngược trang hồ sơ khởi tố

Có mặt quỷ sau mặt người lấp ló

Quỷ thì run mà người thì buồn.

(Người cùng thời)

 

Sự kinh dị hay đổ nát

Cùng con đường chạy qua ký ức

Dấu chân không nhận ra nhau vô cảm trơn lỳ

Cả dòng sông trúng độc từng dìm ta xuống đôi bờ cỏ nát

Giờ thành đuôi sao chổi quét ngang trời

Kết thúc cơn mơ cuối cùng thế kỷ.

(Khúc dạo đầu)

 

Những cánh đồng thất bát, những dòng sông nhiễm độc, những ngôi nhà bị đe dọa, những đô thị tha hóa, những con đường vô cảm trơn lỳ, những âm mưu toan tính hiểm độc, ngàn vạn lưỡi câu giăng ngang trời… khiến đời sống trở nên đáng sợ. Khắp nơi chốn, con người phải đối diện với nguy cơ bị hủy diệt, sống trong nỗi lo âu bao trùm như dưới bóng của loài chim dữ. Hoài nghi, lo âu, bất tín là tâm trạng của cái tôi trữ tình, kiến tạo vùng mĩ cảm hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn (ló dạng ở các tập thơ Vách nước, Người cùng thời, Nghi lễ nhận tên, và tập trung đậm đặc ở tập Hôm sau). Nhìn trên bình diện tổng thể, không gian lụi tàn là một thực tại, vừa có tính phản ánh, vừa có tính soi chiếu với những vùng không gian mộng mơ khác. Trên hành trình của kẻ vong thân, đây là vùng không gian nhọc nhằn, khổ ải nhất. Vừa phải đối diện và sống trải với biết bao gãy đổ tha hóa, vừa khắc khoải hoài niệm những điều tốt đẹp đã lùi vào dĩ vãng, vừa âu lo cho chặng đường phía trước, cái tôi trữ tình nhận ra mình là một kẻ lưu đày.

 

4.3. Không gian sinh sôi – nơi sự sống được ấp ủ trong yêu thương

Ký ức phong kín những điều đã qua, cũng là một cách để kháng cự tình trạng tha hóa của hiện tại. Tuy nhiên, không chỉ có ký ức, không chỉ có những bất an và lụi tàn, phần lớn hơn, làm nên cốt cách nghệ thuật, tư tưởng thẩm mĩ, tư tưởng nhân văn cao cả trong thi giới Mai Văn Phấn là những hiện diện đầy phong nhiêu của sự sống, với tình yêu thương và khát vọng sinh sôi bất tận.

Gió vẫn ru xanh mướt ở trên đầu

Trời rót xuống từng cơn mưa đằm thắm.

 

Cái ác đã ngủ yên trong nhuỵ đắng

Cho đất lành thơm mát đến rưng rưng

Hồn tôi lung linh hạt nắng

Rơi xuống đồng xanh không cùng.

 

Và rạng đông!

Từng giọt rạng đông!

Tôi lại nhập hồn về với xác

Chẳng phải tôi, cũng không là người khác

Để hồn nhiên cất tiếng khóc lọt lòng.

(Hồn nhiên)

 

Trái đất – Căn nhà hộ sinh

Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không gian xanh những dòng

mật mã...

 

Đêm đầu mùa

Anh cuống quýt hôn em qua kẽ lá

Khi sương tan cành biêng biếc xanh.

 

Cô đơn tràn bãi trưa hanh

Mùa đi rung cây lá đổ

Phải dằn dữ và cũng mềm như gió

Gió từ biển xanh mang sắc của trời.

 

Bình minh lên chiếu sáng nửa đời

Còn nửa kia chìm vào bóng tối

Bao lối cỏ cứ xanh vội vội

Thấm lên bàn chân ai qua.

 

Sóng trên cây thầm thĩ mỗi hiên nhà

Con đò thời gian hối hả

Khi mỗi chúng ta là chiếc lá

Thì rừng hoang bỗng hoá nhà mình.

 

Trái đất –  Căn nhà hộ sinh

Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không gian xanh những dòng

mật mã...

(Màu xanh)

 

Chiều nay em cho con bú. Ngoài kia từng chân kiến đang đi, từng cánh ong vẫn còn đang vỗ. Nơi anh về trú ngụ là ô trời xanh trong mắt em cười. Hạnh phúc nào bằng ta bên nhau thảnh thơi, như được xoải mình nơi chân đê cát mịn. Anh hôn lên ngực em căng đầy thơm mát, chiều ngọt ngào cánh cò cánh vạc, qua môi anh khẽ đậu xuống hồn. Căn phòng mình chẳng còn những bức tường bao quanh và không gian thành thời gian thánh thiện, khi anh mải mê nhìn vầng ngực em dâng đầy như biển, cứ thu mình tìm vào miệng con be bé xinh xinh...

Nghe đâu đây có tiếng thạch sùng điểm nhịp, hay những giọt nước xa xưa đang rơi vào vại nước nhà mình.

(Em cho con bú)

 

Như vừa mở được chiếc hũ nút

Bóng tối tràn tím rạng đông

Sấp mình tựa lũ bướm đêm

Ôm những giấc mơ, mơ cùng hạt giống.

 

Những hạt giống vừa chạm vào ánh sáng

Chợt hiện bao điều chẳng thấy trong mơ

Rơm rạ mục dâng lên từ đất ẩm

Gió xước qua bụi gai trong lúc giao mùa.

 

Ngày mới đến đưa bàn tay nắng ấm

Lấy đi những hạt cuối cùng

Tôi chếnh choáng rỗng không chiếc hũ

Đợi những mùa vàng rạo rực hiến dâng.

(Tự thú trước cánh đồng)

 

Những hạt mưa ríu rít trên đầu

Đất vạm vỡ dưới bầu trời tươi tốt

Qua vỏ trấu của mùa gặt trước

Đã nảy những đọt mầm tia nắng tinh khôi.

(Tiếng gọi từ những cánh đồng)

 

Lan nhanh, choáng ngợp đất hoang vừa mở

Em đổ từng trận lũ dại cuồng

Cuốn xiết anh khỏi ngôi nhà có khu vườn bé nhỏ

 

Con chim cắt không gian rộng để lại đường bay bất tận

 

Cội rễ anh vươn mắt em nhìn tươi tốt

Từng đọt mầm phun hơi ấm lòng đất ướt

từ hơi thở làm bầu trời đổi khác

từ khoảng không được quyền kiến tạo đám mây

 

Mắt rạ rơm đốt thiêu mùa cũ

Đổi thay cách nhìn và khoảng trống chân trời

đất nhận cả những gì còn cháy dở

mùa mới về tự tin, nghiền nát và xoá hết

Nụ hôn nín thinh, toả nhiệt, khoan vào lòng đất

chạm những mạch ngầm ứ căng huyền bí thuở xưa

Đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt

dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời

 

Những mùa tái sinh trổ đòng chín rục

Sấm nổ vang trong lòng tay mầm hạt

Vòng phù sa tươi ròng ấp ôm thớ đất

Em cúi xuống và dòng sông ùa đến bất ngờ.

(Bài hát mùa màng)

 

Buông anh như gieo hạt

 

Tỉnh dậy cỏ cây láng ướt bầu trời

Mưa quần tụ mái nhà gõ nhịp

Mặt đất mềm hơi thở lan nhanh

 

Em luống cuống kéo chăn che ngực

Ngỡ ai qua đây xếp lại căn phòng

 

Giấc mơ ấy vẫn còn dang dở

Chợt rộ lên từng đợt lá non

 

Vùi vào nhau hạt mầm bé nhỏ

Rơi trong nụ hôn tinh sương.

(Tỉnh dậy trong mưa)

 

Một điều có thể nhận ra rất rõ trên hành trình thơ của Mai Văn Phấn, đó là, dù mộng mơ lãng mạn, dù hoài niệm thiết tha, dù hoang mang bất an, nhưng trước tất cả và sau tất cả, giữa những ngổn ngang tha hóa, Mai Văn Phấn vẫn giữ một tinh thần nhân văn cao cả, hướng tới sự sống vĩnh hằng. Bởi vậy, không gian sinh sôi trong thế giới nghệ thuật của Mai Văn Phấn, vừa là ý niệm ban đầu để dấn bước vong thân, kiếm tìm, sáng tạo; vừa là cõi giới mơ về để tụng ca và gìn giữ. Đây chính là không gian trọng tâm, cốt lõi, biểu đạt tư tưởng nghệ thuật của Mai Văn Phấn. Trong không gian ấy, có một cái tôi lãng mạn, một cái tôi nồng ấm yêu thương, một cái tôi khao khát sinh sôi; có em – một hình tượng kết đọng những mộng mơ về vẻ đẹp phồn sinh – thánh thiện, là bến bờ của yêu thương và an trú; có ký ức vẹn nguyên, có những chuyển động của vạn vật hướng về sự sống hòa ái, nhuần tươi và rạng rỡ.

 

4.4. Không gian siêu hình – linh thiêng

Không gian nghệ thuật là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo, mang tinh thần, quan niệm của nghệ sĩ. Những biểu đạt không gian khác nhau, nói lên góc nhìn, chú ý thẩm mĩ và cả những hoài niệm – mộng mơ (cái nên là) hay kháng cự không gian (cái đang là) của nhà thơ. Với Mai Văn Phấn, bên cạnh những vùng không gian đã được nói tới ở trên, còn có không gian siêu hình – linh thiêng, làm thế giới nghệ thuật trở nên mơ hồ, sâu xa hơn.

Chúa Jê-su và Phật Thích-ca

Trên cỗ xe năm 2000

Cả Người tôi yêu mến nữa

Họ cùng bên nhau lặng yên.

 

Thế rồi xe tới Hoàn nguyên

Họ vụt oà lên nức nở

Nước mắt thành đầu còn cỗ xe thành chân trẻ nhỏ

Khi gửi xiêm y vào gió

Họ ôm chầm lấy nhau.

(Hoang tưởng năm 2000)

 

Tôi thổi vào lòng ống sáo tối đen địa ngục, để tìm ra bảy lối tới thiên đường: đồ rê mi fa son la si.

Từng âm giai vỗ cánh bay đi, chao nghiêng trong ánh sáng bảy màu lung linh huyền ảo, để những bóng tối kia cũng mang hình ống sáo, cho tôi lại ghé môi khắc khoải thổi vào.

Rời bè trầm chúng bay lên cao, rồi thả vào đêm bao chiếc thang cung bậc. Nghe âm vang bước chân của bóng đêm nặng nhọc, đang lần từng âm vực mà lên.

Vũ trụ lầm lì lơ lửng trong đêm. Những con sóng dịu mềm cho bên lở biết mình còn đó, để ban mai thức dậy gặp bên bồi.

Mỗi góc tối trong tôi đang ngậm lấy âm thanh như ngậm vào vú mẹ, từ miệng mình he hé ánh sáng bồng bế nhau thong thả tràn vào.

(Viết cho cây sáo)

 

Chạm bờ ánh sáng

Anh quỳ xuống

Em hiện thân trong chiếc áo thiên thần

Lấy một ít nước gọi lên máu và sữa cỏ

Em dịu dàng rửa tội cho anh.

(Nghi lễ cuối cùng)

 

... Phía cha mơ có ban mai đến sớm, ban mai ấy giống như con dẫu khóc hay cười đều làm sáng lên lớp bụi trần gian, sáng lên những đường kỷ hà trên nền thổ cẩm. Trên hương án tổ tiên những bài vị nhang đèn đang tư lự một điều gì âm ỉ. Sau tiếng đàn đá trống đồng, cha đứng ngây nhìn đàn chim Lạc bay qua...

Con đã thức dậy trong ban mai của cha. Phía chân trời hừng đông như trẻ thơ bụ bẫm đang duỗi dài khoái hoạt. Vài tia sáng đầu tiên giãi bày niềm hân hoan trên thềm cửa, rồi đưa những ngón tay mềm âu yếm đỡ con đi.

(Lúc mặt trời mọc)

 

Mẫu nâng niu con ánh trăng

Tiếng chuyền cành, tiếng hú

Da thịt con yêu trải sâu đêm tối

Dựng tầng mây mưa nguồn

 

Cành cây la đà mặt nước

Một con chim vừa đậu

 

Chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường

Xa mảnh vườn, những đàn chim khác

Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước

Nhìn hướng bầu trời mở đôi cánh

 

Ngọn cây vươn mỏ con chim

Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió

 

Tiếng hạt vỡ trong ngực

Bãi trống và quả xanh

Qua rừng sâu tán lá rậm rạp

 

Con sơ sinh trên đất

Bơi qua sông con nòng nọc đứt đuôi

Tập vỗ cánh, quạt gió vào lòng tổ

Bật lá mầm bay đi thênh thang

(Cửa Mẫu – Bầu trời không mái che)

Em vẫn mơ canh giữ con thuyền

Thức dậy đổ đầy trăng vào nắng sớm.

(Buông tay cho trời rạng)

 

Có thể thấy, hiện diện trong thi giới Mai Văn Phấn hai dạng thái không gian: siêu hình và thiêng. Nếu không gian siêu hình được tạo dựng từ cái nhìn lập thể, qua tư duy tượng trưng, thì không gian thiêng lại là sự ngưng đọng của văn hóa tâm linh và đức tin. Cả hai dạng thái này, về thực chất, đều là nỗ lực của chủ thể để bứt ra khỏi sự cứng nhắc, sáo mòn hay những kinh nghiệm hời hợt giản đơn về thực tại (thực tại khách quan biểu kiến và thực tại tinh thần của thi sĩ). Thế giới bí ẩn, phong phú hơn bất kỳ sự tưởng tượng nào. Vì vậy, những biểu đạt siêu hình, phi logic hay những quang cảnh mơ hồ linh thiêng, nói như các nhà thơ Dạ Đài, là kết quả của một quá trình “hư lên vì sự thực” (Bản tuyên ngôn tượng trưng, 1946). Đó là phương cách tốt nhất để đến gần sự thực, bổ sung cho sự thực, chất vấn thực tại hay đề xuất một thực tại khác song hành cùng thế giới mà con người có thể tri nhận một cách thông thường. Với Mai Văn Phấn, trong vùng không gian này, cái tôi mơ mộng, nồng ấm yêu thương, khao khát sinh sôi, hoài nghi – bất an hay an nhiên – minh triết, có cơ sở để bày tỏ những khác biệt trong cách tiếp cận, quan sát và biểu đạt thế giới. Đồng thời, tính thiêng của không gian là điểm tựa vô hình để con người có thể vượt qua nỗi âu lo, sợ hãi đến từ những gì nông nổi, phàm tục. Vùng không gian này, như vậy, ẩn chứa nguồn năng lượng vẫy gọi siêu vượt và phục sinh, hoàn thiện tư tưởng nhân văn hướng về sự sống cao cả, thiêng liêng trên hành trình sống và sáng tạo của Mai Văn Phấn.

 

5. Ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn

 

Ngôn ngữ thơ là hình thức trực tiếp của tư duy thơ, là hệ thống ký hiệu để thi sĩ bày tỏ những suy tư và mĩ cảm của mình. Ngôn ngữ thơ cũng là tín hiệu giao tiếp đầu tiên của thi phẩm với người đọc. Khác với ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ thơ gợi cảm, đa nghĩa, được tổ chức trong một cấu trúc giàu nhịp điệu, nhạc tính và tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Không dừng lại, hay đúng hơn, không chỉ là hệ thống ký hiệu biểu đạt (theo nghĩa là cái biểu đạt), mà ngôn ngữ thơ còn là cái được biểu đạt. Cách nói, ngôn ngữ thơ tự lấy nó làm mục đích hay thơ là chữ, làm thơ là làm chữ,… xuất phát từ chính quan niệm với thơ ngôn ngữ là thứ nhất, không phân chia hình thức – nội dung một cách cứng nhắc khi tiếp cận một văn bản thơ – một thi phẩm.

Trong thực tế, không có thứ ngôn ngữ không thuộc về ai cả. Ngôn ngữ, khi được nói – viết ra, đều phải thuộc về một ai đó, là lời của ai đó. Trong thơ, đó là lời của nhân vật trữ tình (cái tôi trữ tình và tha nhân hoặc bất kỳ ai được lên tiếng trong văn bản). Tuy nhiên, do đặc tính chủ quan, độc bạch, về căn bản, thơ vẫn là tiếng nói của cái tôi trữ tình.

Bước vào thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, trên hành trình qua các miền mĩ cảm khác nhau, gắn với mỗi bản dạng cái tôi trữ tình là một lớp ngôn từ đặc trưng. Có thể nhận ra 5 lớp ngôn từ nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn: 1. Lớp ngôn từ thể hiện sự hồn nhiên, lãng mạn; 2. Lớp ngôn từ thể hiện sự cuồng nhiệt, khao khát; 3. Lớp ngôn từ thể hiện sự bất an, hoài nghi; 4. Lớp ngôn từ mang sắc thái tâm linh; 5. Lớp ngôn từ tối giản, biểu đạt sự minh triết.

Điểm xuất phát của Mai Văn Phấn là địa hạt lãng mạn. Trong địa hạt này, bằng đôi mắt hồn nhiên, những mộng mơ bay bổng, những cảm xúc dịu nhẹ, những ngân vang nhịp nhàng trong tâm hồn thi sĩ tìm thấy lớp ngôn từ đẹp và trong sáng.

Em, bông hoa rừng buổi sớm

Và anh bỗng thành hươu nai

Trời xanh xanh vạt cỏ dài.

 

Hồn anh những miền mây trắng

Theo em mải miết phiêu bồng

Chim lâng lâng về tầng không.

 

Trong mắt có dây tơ hồng

Rủ bóng hình em ngơ ngẩn

Rừng cây cây mọc muôn trùng.

 

Lá cuốn mùa thu trải thảm

Anh về ngủ dưới chân em

Cơn mơ mơ lạc giữa đền.

(Em)

 

Thôi đừng dỗ cỏ lên trời

Khi tan mộng mị biết ngồi với ai

Dấu chân đừng hóa chông gai

Nép vào bóng xế dũa mài hoàng hôn

Ta về đổ bóng xuống vườn

Cho xanh tươi lại từng cơn úa vàng

Ghé môi vào miệng thời gian

Cho hơi thở mọc vô vàn cỏ non.

(Tản mạn với cỏ)

 

Heo may thoảng hơi người phảng phất

Trong veo mặt nước ngóng em về.

(Nỗi nhớ mùa thu)

 

Sau bão giông trời chưa kịp xanh lơ

Thu đến chậm hoa vàng chưa bối rối

Mía cứ ngọt âm thầm trong bóng tối

Giấc mơ thành dòng sông chảy giữa hai mùa

Tôi nhòa đi trong nắng mỏng sương thưa

Lan theo cỏ dọc triền đê thoai thoải

(Hát giữa hai mùa)

 

Thu về e ấp

Cốm non lãng đãng sương giăng

 

Khăn áo ấy mịn màng da thịt

Dâng heo may lên trời

 

Nhịp cốm giã rộn mùa thóc nếp

Thúng mủng dần sàng vỏ trấu hây hây

 

Trái bưởi thơm dịu nắng hanh

Thanh khiết chùm hoa mộc

 

Giữa đất trời ngó sen sau mưa

Da diết nhớ từng vòng cuộn xiết

 

Lá sen xanh ủ cốm em anh

Chín nẫu chân mây mùa hạ

 

Đêm ái ân lặng phắc ngọn đèn

Trái hồng đượm trong hương cốm nõn.

(Cốm hương)

 

Mĩ cảm lãng mạn chắp cánh cho ngôn từ bay đến cái đẹp hài hòa, trong sáng, làm tâm hồn con người như được nâng đỡ một cách nhẹ nhàng. Tư duy nhị nguyên vốn là cơ chế đặc thù của con người lãng mạn (hướng đến cái nên là, khước từ – vượt thoát khỏi cái đang là) in đậm dấu ấn vào hệ thống lời thơ mở ra vùng không gian mơ mộng. Có thể nói, xuất hiện nhiều ở giai đoạn đầu trên hành trình thơ và phảng phất dọc miền thi ca Mai Văn Phấn, lớp ngôn từ lãng mạn minh chứng cho kiểu người giàu ước mơ, hồn nhiên và đầy cảm xúc. Như đã nói ở trên, trong phần trình bày về cái tôi trữ tình, có lẽ, tuổi trẻ, ước mơ, tình yêu, đã nuôi dưỡng nguồn cảm xúc lãng mạn này ở Mai Văn Phấn. Cùng với đó, sức hút của mĩ cảm truyền thống, của quan niệm về chất thơ truyền thống, đã kéo Mai Văn Phấn vào từ trường của chủ nghĩa lãng mạn – phát huy tính lãng mạn như là thuộc tính vĩnh hằng của con người.

Các sắc thái ngôn ngữ thơ thực chất không phân chia trước sau, quãng đoạn hay dòng lối rõ rệt. Có những dấu hiệu tượng trưng, siêu thực, thậm chí là hạt mầm của tân cổ điển đã xuất hiện từ rất sớm ngay ở các tập thơ đầu mà sắc thái lãng mạn là chủ đạo. Cũng vậy, giữa những bất an và gãy đổ trong vùng khí quyển hậu hiện đại vẫn thấp thoáng ánh sáng của cái đẹp lãng mạn – đã thành cổ điển. Thế nghĩa là, những sắc thái đôi khi nhòa thấm, xen cài vào nhau, vừa cho thấy tính chất uyển chuyển của tinh thần, tư duy, mĩ cảm; vừa cho thấy sự hòa quyện của các khả năng biểu đạt. Cùng với đó, sự tương hỗ, tương cận hay tương phản của các sắc thái ngôn ngữ cũng góp phần làm cho khả năng biểu đạt thẩm mĩ đạt đến hiệu quả cao nhất có thể. Tuy nhiên, nắm lấy những sắc thái chủ đạo, bên cạnh lớp ngôn từ lãng mạn, người đọc có thể bắt gặp một hệ thống ngôn từ ở cấp độ cao hơn về cảm xúc. Đó là lớp ngôn từ biểu đạt sự cuồng nhiệt, nồng ấm yêu thương, khao khát sinh sôi, xuất phát từ tâm trạng, cảm xúc của cái tôi trữ tình đã nói tới ở trên. Lắng nghe, những lời thơ ấy, hóa ra lại là lời của một con người gắn bó mật thiết với văn hóa nông nghiệp lúa nước, gắn với đồng đất quê làng và nhịp điệu sinh sôi của sự sống nơi đây. Trường từ vựng dựng lại một trường văn hóa, trường thẩm mĩ rất gần gũi, nồng ấm và bao dung như đất đai, sông hồ, biển cả, rừng núi, con người và tình yêu trên xứ sở phì nhiêu này. Một lần nữa, giữa nhiều dẫn chứng, hãy đọc lại Bài hát mùa màng:

Lan nhanh, choáng ngợp đất hoang vừa mở

Em đổ từng trận lũ dại cuồng

Cuốn xiết anh khỏi ngôi nhà có khu vườn bé nhỏ

 

Con chim cắt không gian rộng để lại đường bay bất tận

 

Cội rễ anh vươn mắt em nhìn tươi tốt

Từng đọt mầm phun hơi ấm lòng đất ướt

từ hơi thở làm bầu trời đổi khác

từ khoảng không được quyền kiến tạo đám mây

 

Mắt rạ rơm đốt thiêu mùa cũ

Đổi thay cách nhìn và khoảng trống chân trời

đất nhận cả những gì còn cháy dở

mùa mới về tự tin, nghiền nát và xoá hết

Nụ hôn nín thinh, toả nhiệt, khoan vào lòng đất

chạm những mạch ngầm ứ căng huyền bí thuở xưa

Đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt

dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời

 

Những mùa tái sinh trổ đòng chín rục

Sấm nổ vang trong lòng tay mầm hạt

Vòng phù sa tươi ròng ấp ôm thớ đất

Em cúi xuống và dòng sông ùa đến bất ngờ.

 

Đây là một bài thơ đa nghĩa rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật, tư tưởng nghệ thuật, ngôn ngữ thơ, giọng điệu thơ Mai Văn Phấn. Ở khía cạnh ngôn ngữ, có thể thấy, hầu hết các từ – ngữ, hình ảnh – hình tượng được trưng dụng đều dồi dào năng lượng với cảm xúc cuồng nhiệt, dồn nén, hứa hẹn một sự sinh sôi mới mẻ (đất hoang vừa mở, trận lũ dại cuồng, cuốn xiết, bất tận, phù sa tươi ròng, lòng đất ướt, đốt thiêu, nghiền nát, xóa hết, nín thinh, tỏa nhiệt, ứ căng, khoan, phun, dâng lên, bời bời, chín rục, ùa đến…). Nhịp điệu bài thơ nhanh, câu chữ và hình tượng dồn nén, nhiều động từ, tính từ với sắc thái mạnh, biểu đạt một nguồn cảm hứng dâng trào. Ngôn từ và hình ảnh này chỉ có thể sinh ra từ một quá trình dồn nén và khao khát: khao khát gieo trồng trên đất đai vừa mở; khao khát ái ân trên đỉnh sóng tình yêu; khao khát những mùa màng sáng tạo. Đó là sản phẩm của một trái tim yêu thương nồng ấm, một mộng mơ nhiệt thành trên hành trình sống – yêu – sáng tạo của thi sĩ.

Con người nếu cứ mải mộng mơ, có khi lại thành một kẻ vô tâm. Dự án làm người cũng chẳng bao giờ dễ dàng, xuôi chèo mát mái để chúng ta có thể hồn nhiên trong không – thời gian mơ mộng, lãng mạn. Những đam mê cuồng nhiệt, những kiếm tìm mải miết, ngày kia có thể chạm mặt thác ghềnh. Ấy là khi, sự sống đặt con người trước những âu lo, trước những đổi thay đầy hiểm họa. Thơ Mai Văn Phấn trong nhịp điệu này vẽ nên dung mạo cái tôi bất an, hoang mang và hoài nghi. Bởi thế, lời thơ cũng trở nên khắc khoải, phân mảnh, lập thể, siêu hình, phi lý. Sự sống hiện ra với dáng vẻ trần trụi của nó, nhưng lại rất khó tin. Khó tin mà lại gần với sự thực bởi tính đa khả thể, bí ẩn của thực tại. Trong những dẫn chứng đã nêu ở trên khi bàn luận về cái tôi bất an hoài nghi trong không gian nhiễm độc, tha hóa, chúng ta có thể nhận ra, ngôn ngữ thơ của Mai Văn Phấn đã được giải tỏa khỏi lớp bọc huyền ảo của mộng mơ, rơi xuống cõi đời bề bộn, ngổn ngang, giăng mắc ngàn vạn lưỡi câu. Dưới bóng của loài ác điểu (con quạ), sự sống bị đe dọa, bị tha hóa, bị xáo trộn, trong những trật tự không ngờ. Con người trong cảnh sống ấy đã mất đi vẻ hồn nhiên mơ mộng, đã ngừng lại những đam mê cuồng nhiệt để hoài nghi và chất vấn thực tại sinh tồn này.

Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời

Con quạ rực sáng.

 

Khai sinh

Sau tiếng quạ kêu

Ra đi không cưỡng lại

Gói bọc được mở ra

Sự băng hoại không thể cất giấu

Thày lang đốt sách cuối vườn

Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng

Những phù thuỷ chịu hình phạt

Miệng bị đóng bởi những móc sắt

 

Khai sinh

Khi quả chuông rơi xuống bất ngờ

Chụp lên đầu người bõ già

Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn

Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu

 

Khai sinh

Mực đổ dưới chân và máu

vón cục ở yết hầu, phế quản

Viết một nét lên trang đầu

thấm suốt cả ngàn trang sách.

 

Bổ nhào từ đỉnh cao

Bằng đôi cánh sắc

Lấy tâm điểm xác chết

Chém toác bầu không

Gió hấp tấp không kịp băng bó.

 

Móc từ hốc mắt

những nhãn quan

Di ảnh là vật chứng

Mổ vào lưỡi

và kéo dài

Phơi dưới trời bài học khẩu ngữ

Bóc từng mảng thịt

Tháo rời tứ chi

Sổ tung lục phủ ngũ tạng

 

Hộp sọ vừa được dựng lên

Rêu đã phủ đầy

Không viết nổi những dòng bi ký.

 

Con quạ mơ

Mọi cái chết đều được sắp đặt

 

Sau tiếng quạ kêu

Ai đã tự nguyện nằm xuống.

 

Con quạ bay vào phòng

Một ngón tay yếu ớt giơ lên

Ý nói:

Đây là họng súng

Là lưỡi mác

Thậm chí cuốc thuổng

Thậm chí chính ngón tay rất cứng

Đúng hơn là đông cứng

Rồi băng đá

Rồi rữa tan.

 

Đừng đến gần bóng râm

Chúng là con quạ

Xoã cánh lúc hoàng hôn, rạng đông

 

Nanh vuốt bám gió

Xay nghiền lá khô

Bẻ những cành vượt

 

Nhà thơ trú trong bóng râm

Từng con chữ bị khoét mất mắt.

 

Trông

Sự vật

Trừng trừng

Bởi chớp mắt

Bóng quạ

Ập tới.

 

Bóng mình

Không cất tiếng

Sợ biến thành gà con.

 

Một số người trỗi dậy từ đám đông, khoác áo đen, mang mặt nạ đen. Vừa chạy, họ vừa đập cánh tay vào hai bên sườn. Đầu cố ngước lên. Bóng đen bay là là mặt đất.

 

Đậu trên chạc cây trong trạng thái bội thực và ngủ gật, con quạ mơ mỗi mẩu thức ăn đang nén chặt trong diều biến thành quả trứng. Đàn quạ con lũ lượt chui khỏi ngũ quan, lập tức sà xuống săn mồi theo bản năng của loài ăn thịt.

 

Những đau khổ tột cùng ngoái nhìn đời sống tưởng chừng đã chết. Áo khoác kêu thất thanh khi đi qua bàn tủ. Máy điện thoại im lìm ngủ. Chiếc kẹp ghim mở miệng cố giấu đi móng vuốt. Cán chổi móc vào tay người lao công, kéo chị ta về bên hố rác. Vành mũ trên đầu kêu thảng thốt, rồi cúi xuống rỉa hết mặt nhân viên bảo vệ. Không ai mở cổng. Nhiều người vẫn tìm được lối đi vào.

 

Những linh hồn thoát xác tìm cách quay về chiến đấu với loài quạ dữ. Sau những loạt đạn không gây sát thương, khói hương căng thành bảng, viết con chữ đầu tiên của bài học mới.

 

Đây là dòng cuối cùng trong một bản di chúc:

“Bắt đầu lễ Thiên táng lúc xuất hiện bóng quạ”.

 

Bóng đêm chui dần vào bụng quạ.

 

Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những giọt nước đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ ghìm nén xao động, mong giữ lại bóng cây. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói to một mình trong bóng tối.

 

Con quạ khật khừ xuyên đêm

Thảng thốt kêu

 

Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại

(Biến tấu con quạ)

 

Cần phải trích dẫn lại đầy đủ bài thơ “Biến tấu con quạ” để bảo chứng cho sắc thái bất an, hoang mang trong ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn trên chặng vong thân này. Bài thơ xuất hiện ở tập Vách nước (2003) và sau đó phát triển đậm đặc thành hệ thống lời / giọng bất an, khắc khoải, hoài nghi cùng thế giới hình ảnh phân mảnh, lập thể, phi lý trong tập Hôm sau (2009). Với lớp ngôn ngữ thơ này và tập thơ Hôm sau, Mai Văn Phấn đã chính thức nhập vào dòng thơ mang cảm thức hậu hiện đại ở Việt Nam với những tên tuổi đương thời và trước sau không xa như Inrasara, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, Đặng Thân, Ly Hoàng Ly, Phan Thị Vàng Anh, Lê Anh Hoài, Lê Vĩnh Tài, Phan Huyền Thư, Trần Lê Sơn Ý, Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh, Nhóm Ngựa Trời…

Điều gì sẽ cứu rỗi con người trong cơn khủng hoảng tồn tại? Giữa bất an và hoài nghi, có lẽ, tình yêu thương và đức tin mãnh liệt là chiếc phao cứu sinh cho nhân loại, hay đúng hơn là ân phước mà loài người nhận được từ thế giới siêu nhiên. Bởi thế, xem xét hành trình vong thân và sáng tạo của Mai Văn Phấn, người đọc có thể nhận thấy lớp ngôn ngữ thơ mang sắc thái tâm linh hiện hình giữa những nhịp điệu khi bay bổng mộng mơ, khi cuồng nhiệt nồng nàn, khi hoang mang bất lực[1]. Trong tiểu luận “Những bước đầu tiên”[2], Mai Văn Phấn chia sẻ: “Tôi sinh ra trong một gia đình Công giáo. Từ thuở ấu thơ, bà nội tôi chính là vị Thừa sai[3] đầu tiên đã rao giảng Phúc Âm cho tôi, dạy tôi biết yêu thương, tha thứ và sống cho tha nhân. Từ ấy, tôi được sống, được chiêm ngẫm ý nghĩa của các Bí tích[4] trong Công giáo cùng kinh bổn và những bài thánh ca. Đồng thời, qua những câu chuyện dân gian mà bà tôi thường kể, những câu ca dao, làn điệu dân ca và đồng dao ở vùng quê Bắc Bộ, tôi say mê những câu chuyện li kỳ và hấp dẫn trong dân gian, được thưởng thức những tác phẩm văn học tiêu biểu của một số dân tộc qua các thời đại. Những năm tháng ấy đã mở ra trong tôi một thế giới tuyệt đẹp, ở đó không có những thói hư, tật xấu của con người, nơi cái thiện luôn chiến thắng cái ác, sự chân thật thường lấn át những điều gian dối... […] Trong sáng tác văn chương, tôi xem sự dấn thân là quá trình trải nghiệm mạnh mẽ, tích cực nhất để bộc lộ tối đa trạng thái tự do cá nhân, nhằm khám phá, biểu đạt hiện thực tinh thần và hiện thực đời sống. Một trong những mục đích của sáng tạo trong văn chương, là để người viết được lan tỏa tình yêu thương cũng như vẻ đẹp tâm hồn mình tới mọi người, làm cho độc giả cảm nhận thêm ý nghĩa lớn lao đầy tính nhân văn của đời sống này. Sáng tác luôn là công việc khó khăn và cực nhọc, nó đòi hỏi sự hy sinh của người cầm bút, thậm chí anh ta phải dám chấp nhận sự thua thiệt trong đời sống thực. Công việc sáng tác cũng đòi hỏi người viết phải làm việc nghiêm túc, tính chuyên nghiệp cao. Với thơ, làm được những điều như tôi vừa đề cập thì dường như người viết mới thực hiện được một phần của quá trình sáng tạo. Điều quan trọng nữa khi sáng tác, nhà thơ phải nhận được sự mầu nhiệm của “Ơn gọi”[5], tựa như gặp được “Cơ duyên” trong Đạo Phật. Hai mạch nguồn quan yếu ấy của quá trình sáng tạo có thể ví như đôi cánh của một con đại bàng, chỉ với sự hoàn thiện ấy, nó mới có thể bay cao, bay xa được. Sáng tác văn thơ với tôi luôn là giấc mơ đẹp nhất, nó vẫy gọi tôi tiếp tục dấn thân để đến với một thế giới khác kỳ diệu hơn, thanh sạch và bay bổng hơn. Tôi luôn hạnh phúc trong sự nhọc nhằn và trạng thái tự do của sáng tạo.”[6]

Tôi nghĩ rằng, từ Phúc Âm, Bí tích, những tín ngưỡng dân gian bản địa, cùng với tiếng gọi linh thiêng từ thế giới siêu hình; từ những bước đi đầu tiên và hành trình dấn thân “hạnh phúc trong sự nhọc nhằn”, thơ Mai Văn Phấn đã luôn giữ được sắc thái của sự linh diệu, huyền nhiệm, khi ông ngước nhìn lên. Lời thơ, bởi vậy cũng là lời của một đạo hữu, một tín đồ. Sự thực, các tôn giáo hay tín ngưỡng, cuối cùng đều châu tuần về đức tin lớn nhất trong trái tim thi sĩ, đó là tình yêu thương làm nên vẻ đẹp nhân văn cao cả. Những bài thơ, tập thơ như “Hoang tưởng năm 2000”, “Nghi lễ cuối cùng”, “Nghi Tàm”, và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che, hoa giấu mặt, thả… có thể là bảo chứng cho tinh thần nhân văn cao cả được “thêm sức” từ đức tin của Mai Văn Phấn:

Chúa Jê-su và Phật Thích-ca

Trên cỗ xe năm 2000

Cả Người tôi yêu mến nữa

Họ cùng bên nhau lặng yên.

 

Thế rồi xe tới Hoàn nguyên

Họ vụt oà lên nức nở

Nước mắt thành đầu còn cỗ xe thành chân trẻ nhỏ

Khi gửi xiêm y vào gió

Họ ôm chầm lấy nhau.

(Hoang tưởng năm 2000)

 

Bài thơ này là điểm hội tụ của những gì chúng ta đã nói về tôn giáo, tín ngưỡng, đức tin, tư tưởng nhân văn cao cả và ngôn ngữ thiêng trong thi giới Mai Văn Phấn. Je-su, Thích-ca, Người tôi yêu mến, là hiện thân của đức tin và yêu thương. Hoàn nguyên chính là cõi giới ban sơ, nơi không có sự phân chia Đông Tây – khác biệt (Ở những bài – tập thơ khác, ta còn bắt gặp tinh thần Đạo Mẫu, tinh thần Đạo giáo hay cả tín ngưỡng Tô Tem, vạn vật hữu linh…). Nước mắt thành đầu hay chính là sự chuyển hóa của tâm vào trí – lý trí thay bằng cảm xúc. Cỗ xe là phương tiện (biểu tượng của văn minh, cũng là biểu tượng của sự dịch chuyển – rời xa hoàn nguyên) biến thành chân trẻ nhỏ – bước chân hoang sơ, hồn nhiên như buổi khai sinh loài người. Xiêm y gửi vào gió gợi lên quá trình tước bỏ những tạo dựng làm nên sự che phủ – khác biệt… Khi tất cả đã trở về hoàn nguyên, họ – CON NGƯỜI – ôm chầm lấy nhau trong sự gần gũi, yêu thương. Như vậy, nội giới của thi sĩ đã chuyển hóa các tôn giáo, tín ngưỡng, đức tin, trong tình yêu thương, trong khát vọng nhân văn cao cả, làm thành một thứ “Tôn giáo của nhà thơ” như cách R. Tagore đã từng hình dung: “Tôi tin rằng hình ảnh thiên đường phải nhìn dưới ánh sáng mặt trời và mầu xanh của trái đất, trong vẻ đẹp của bộ mặt người và sự giàu có của cuộc sống con người, cả trong những vật xem ra không đáng kể và chưa từng có trước kia”.

Hành trình dấn thân và sáng tạo của Mai Văn Phấn đã đi qua miền hậu hiện đại để đến/ về với tinh thần tân cổ điển trong những tập thơ gần đây như hoa giấu mặt, thả. Những bài thơ ngắn – ba câu, kiệm lời nhưng hàm súc, ý và tình đều được giấu kín trong hình tượng trung tâm. Sự tối giản của hình thức nói lên quá trình lược bỏ/ rũ bỏ những bộn bề ngổn ngang, những rườm rà chật chội, những biện bày rối rắm. Tập trung vào điều quan trọng nhất, tứ thơ chụm gọn, tình thơ cô đọng, ngôn ngữ thơ nhẹ nhàng, thư thái, phảng phất hơi hướng của lời kệ hoặc haiku. Đó là hình thái của sự thức nhận – minh triết về đời sống và nghệ thuật trong ý nghĩa tinh tế và sâu xa nhất.

 

Hoa mận trắng

Trời tối

Ghé sát hoa

Đọc nốt trang sách.

 

Mong manh

Giọt sương nín thở

Treo

Trên vũng nước bẩn.

 

Cuối thu

Những giọt sương

Dìu nhau

Về trái đất.

 

Vô tình

Ai nỡ phơi rơm

Lên ngôi mộ đơn sơ

Người nằm đó cả đời lam lũ.

 

“Đứa con đi hoang trở về” (tên một tác phẩm của A. Gide) sau hành trình nhọc nhằn và hạnh phúc. Dừng bước, cúi xuống, ngồi xuống, nhắm mắt, tĩnh lặng… có lẽ là dạng thái chủ đạo của cái tôi trữ tình trong phần thơ này. Cái tôi đã tìm thấy cho mình sự an nhiên, tĩnh tại, khi nhìn về đời sống. Những bất an, hoài nghi, chất vấn đã lắng lại, hoặc ngủ yên, hoặc được hóa giải. Những mộng mơ, cuồng nhiệt cũng đã được tiết chế. Ngôn ngữ thơ mở vào thế giới của sự minh triết bằng vẻ tinh tế, cô đọng của nó. Đi qua nhiều biến cố, chứng kiến những đổi thay, có lúc bất an và bất lực, nhưng, tình yêu thương và tư tưởng nhân văn cao cả vẫn không hề mất đi. Tư tưởng ấy giờ đây lặng lẽ tỏa hương trong cái nhìn rất sâu vào từng khoảnh khắc của sự sống. Giá trị nhân văn vĩnh hằng gắn với đạo đức, trí tuệ/ trí huệ là phẩm hạnh của thơ tối giản trong ngày về an nhiên, tĩnh lặng của thi sĩ.

 

6. Giọng điệu trữ tình trong thơ Mai Văn Phấn

 

Giọng điệu trữ tình trong thơ là một dạng siêu hình thức. Giọng điệu không phải là thứ để nhìn thấy, mà là thứ nghe ra, cảm nhận được từ việc thâm nhập vào các bình diện – cấp độ của hình thức nghệ thuật. Kết quả của việc lắng nghe cao độ, trường độ, âm điệu, nhịp điệu, sắc điệu của lời thơ; tâm trạng, tình cảm, thái độ của nhân vật trữ tình, chủ thể phát ngôn, cho chúng ta sự đúc kết về giọng điệu. Với trường hợp Mai Văn Phấn, từ những bản dạng khác nhau của cái tôi trữ tình; trong quá trình dịch chuyển qua các không gian nghệ thuật khác nhau; những thời gian hiện hữu khác nhau; với lời thơ mang các sắc thái khác nhau, giúp chúng ta có thể định hình một số giọng chủ đạo trong thi giới của ông. Đó là giọng tha thiết – hân hoan – rạo rực; giọng giễu nhại – hoài nghi – cật vấn; giọng bình thản an nhiên.

Trở lên, khi đối diện cái tôi hồn nhiên lãng mạn, cái tôi nồng ấm yêu thương, cái tôi khao khát đổi mới và sáng tạo, chúng ta cảm nhận được giọng điệu tha thiết – hân hoan – rạo rực. Cái tôi ấy dù đứng giữa hiện tại hay ngoái nhìn quá khứ, dấn bước về những chân trời mới lạ, đều bày tỏ thái độ trân trọng, tình yêu thương sâu đậm đối với sự sống, cái đẹp cùng những giá trị nhân văn cao cả. Từ giọt nước đến bông hoa, từ cơn mưa tới ánh sáng, từ ban mai tới hoàng hôn, từ hạt giống đến mầm cây, từ mảnh vườn đến cánh đồng, từ ngôi nhà đến con đường, từ khu rừng đến dòng sông, từ bầu trời đến biển cả… đều ẩn chứa cái nhìn bao dung, đằm thắm của thi sĩ. Sự sống hiện diện trong tất cả, dù bé nhỏ tinh vi hay lớn lao kỳ vĩ, bởi vậy cần phải nâng niu, gìn giữ và quý trọng (xin xem lại những dẫn chứng khi bàn về các bản dạng của cái tôi hay không gian – thời gian nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn ở trên). Tại đây, chúng ta cùng đọc lại một trích đoạn trong bài “Tỉnh dậy trong mưa”, rút từ tập Vừa sinh ra ở đó (2013) để cảm nhận giọng điệu thiết tha – hân hoan – rạo rực của nhân vật trữ tình trong thơ:

1.

Mở cửa trong ngày mù trời

Mưa bụi ùa vào ẩm ướt

 

Khơi lửa lò

Cho khô nhanh áo khăn

Nhung nhớ

 

Nuốt ngụm môi em

Đầu trần ngó qua cửa sổ

Con bồ câu đậu xuống mái hiên

Mưa giăng mắc bộ lông ánh tím

 

Ở đâu bây giờ cũng có gió xuân

Bức tường vôi vân vi máu chạy

 

Chẳng cần vỗ cánh

Chẳng cần bay đi

Con bồ câu và anh

Chồi lên thành lộc biếc.

2.

Chăn ấm không sao ngủ được

Tưởng tượng em đến mở trần nhà

Thả lọn tóc cuộn anh thật chặt

Nhấc bổng lên lơ lửng trong đêm

 

Quay theo gió

Chốc lại chạm anh vào mặt hồ giá lạnh

Đất ải tơi

Vạt cỏ đầm sương

 

Buông anh xuống!

Em buông anh xuống!

 

Khoảnh khắc ấy anh thành hạt giống

Bật phôi rễ và trổ lá mầm

 

Để trái chín, rượu ngon được cất

Và trứng chim được ủ ấm qua đêm

Anh giữ mãi tưởng tượng này đến sáng.

3.

Buông anh như gieo hạt

 

Tỉnh dậy cỏ cây láng ướt bầu trời

Mưa quần tụ mái nhà gõ nhịp

Mặt đất mềm hơi thở lan nhanh

 

Em luống cuống kéo chăn che ngực

Ngỡ ai qua đây xếp lại căn phòng

 

Giấc mơ ấy vẫn còn dang dở

Chợt rộ lên từng đợt lá non

 

Vùi vào nhau hạt mầm bé nhỏ

Rơi trong nụ hôn tinh sương.

(Tỉnh dậy trong mưa)

 

Ở một khía cạnh khác, quãng khúc khác trên hành trình sáng tạo, chúng ta đã gặp cái tôi bất an, hoài nghi trước thực tại của đời sống và nghệ thuật. Bởi vậy, với thái độ bất tín và trạng thái âu lo, lời thơ cất lên mang giọng điệu vừa giễu nhại, vừa hoang mang, cật vấn:

Cái miệng đang trôi kia chắc của người đã chết

lúc trên cao

lúc chạm vào mặt đất.

 

Bộ xương của cái miệng giờ tan vào cát bụi

vẫn vàng ươm

hay đã xỉn đen trong chiếc tiểu sành?

 

Nhưng cái miệng vẫn mấp máy sống động

khi mím chặt

khi nhoẻn cười độ lượng.

 

Tôi đặt vào cái miệng những ngữ âm

như gõ lên ô Search một website tìm kiếm

Kết quả làm tôi choáng ngợp

Tôi bị lạc vào ổ phục kích?

Là phần mềm bị nhiễm virus?

Hay hòn than vừa rơi xuống tảng băng?

 

Cái miệng không phát ra tiếng động

chỉ hiện lên một đoạn phim câm.

Tôi đã lồng vào đó tiếng gậy gộc,

tiếng động lệnh, dự lệnh

tiếng một người

và cả tiếng đồng thanh

 

Cái miệng vẫn trôi

Chỉ cần ai đó phát ra ý nghĩ.

(Cái miệng bất tử)

 

Ta với gió

Lần vào cung cấm

Vàng son một thời

Hưng thịnh mấy triều vua

Xiết qua hành lang

Bao lơn, bậc cửa

Tiếng các cung phi, vũ nữ, a hoàn...

 

Những hạt bụi vô danh

Phủ kín ngai vàng

Vun chúng lại

Từng bầy ngơ ngác

Lũ gian thần

Lấp lênh khuôn mặt

Nơi phòng the từng thu xếp thế gian.

 

Ngày Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm từ quan

Mây trắng Bạch-Vân-Am thẫn thờ bao thế hệ

Khi Nguyễn Trãi kề đầu dưới lưỡi dao đao phủ

Đá lở Côn Sơn phun mạch nước lên trời.

 

Một người để nước mắt rơi

Mặn mòi lăn khắp mặt người yêu thương...

 

Máu xương mở những con đường

Tìm đến một chân trời mới

Dấu chân ấp trong cỏ dại

ấm dần sỏi đá hoang vu.

 

Bàn tay lần vén sương mù

Gọi nghe vọng vào tít tắp

Tim ta đốt lửa nguyên sơ

Cho tóc sáng thành ngọn đuốc.

 

Soi vào lịch sử chiến tranh

Những nền văn minh huỷ diệt

Xin gọi lay từng cái chết

Tái sinh cùng những bình minh.

 

Những người mẹ

Người vợ vô danh

Mất con

Mất chồng sau cuộc chiến

Những hòn đá vô tri

Mà dại ngây

Âm tính

Vọng Phu!

 

... Giờ những anh hùng nghe tiếng gọi u ơ

Mặt người thân nhọc nhằn nấp sau bát mẻ

Tiếng mọt nghiến hoàng hôn khép mở

Viên đạn hạt mưa bắn xiên từ lỗ thủng mái nhà.

 

Nỗi khắc khoải buông vào hừng đông nhện sa

Bàn tay chai sần mong se thành tơ sợi

Giăng mắc đó đây bao giọng nói không đầu không cuối

Những cây rơm u mê, ngớ ngẩn dưới mưa dầm.

 

Ngỡ chiến tranh về theo sau lưng mình

Phòng lạnh cơ quan thoảng mùi thuốc súng

Nọc độc chạy trong công văn, dây điện thoại, bò cả vào vi-tính...

Những dại khờ mắc bẫy dưới bình minh.

 

Lẽ phải vùi chôn trong đơn thư nặc danh

Đồng tiền lật ngược trang hồ sơ khởi tố

Có mặt quỷ sau mặt người lấp ló

Quỷ thì run mà người thì buồn.

 

Nơi chân trời còn mờ hơi sương

Người đốt lửa đi tìm sự thật

Lựa mái chèo xuôi theo sức nước

Và cánh đồng nín lặng qua đêm.

 

Cứ thầm mong sao mỗi trái tim

Có một ngọn đèn

Trong buổi giao ca thế hệ

Nơi nguồn sông đổ vào biển cả

Vội vã hoàng hôn

Vội vã bóng đêm.

(Nỗi đau phát sáng – Người cùng thời)

 

Tâm thức của con người thời hiện đại – hậu hiện đại cảm nhận được những tha hóa đang diễn ra, nơi sự sống và các giá trị tốt đẹp đang men dần đến vực thẳm của sự hủy diệt. Bất an trong hoàn cảnh ấy, cái tôi cất tiếng như là một sự tố cáo, một lời tuyên chiến, một đánh động tâm can nhân quần đang ngụp lặn giữa bộn bề thay đổi. Giọng ấy cũng là giọng của người biết yêu-thương và biết đau, biết nghĩ và biết lo, hiểu và không thể hiểu nổi những thực tại đang diễn ra trước mắt mình. Như là sắc điệu đối lập, một nghịch âm với giọng điệu tha thiết – hân hoan – rạo rực; giọng giễu nhại – hoài nghi – cật vấn cất lên từ cuộc đời trần trụi, đánh thức con người khỏi mộng mơ lãng mạn. Nếu hình dung “Nhịp điệu vẽ lối đi” thì trong giọng này, nhịp điệu đã trở về với mặt đất, trên trục ngang của những lấm láp đời người, những âu lo phận người. Thậm chí, nếu thiết lập một đồ thị cho hai giọng điệu này, chúng ta sẽ có một cặp đối xứng. Dẫu vậy, trong tinh thần nhân văn cao cả mà Mai Văn Phấn ấp ủ, hướng đến, lời ấy, giọng ấy, cũng là một phương cách để thức tỉnh và cứu rỗi con người khỏi cơn u mê tha hóa.

Giọng bình thản an nhiên chứa đựng tâm trạng, thái độ của chủ thể nhiều hơn. Nghĩa là, giọng ấy ít bộc lộ qua âm sắc, âm điệu (chính xác hơn là tiết chế các cao độ, trường độ), mà hiện ra nhiều hơn ở phần nhịp điệu (chậm rãi, bằng phẳng), thái độ an nhiên, tự tại của con người đã đi qua những bất an và chênh vênh. Những bài thơ ngắn, cô đọng, kiệm lời như dáng vẻ cái tôi ngày trở về lặng lẽ. Cảm xúc hân hoan rạo rực được tiết chế đến mức tối đa, thậm chí, có cảm giác, chủ thể trong những bài thơ ngắn gắng không để lộ ra cảm xúc của mình. Sắc thái lo âu và hoài nghi, cật vấn cũng cơ hồ biến mất, khi mỗi bài thơ chỉ là sự chớp bắt đời sống và ý nghĩa nhân sinh trong khoảnh khắc tinh tế nhất. Khoảnh khắc ấy là nơi ý tình lóe sáng, soi tỏ một làn hương thoảng qua gai nhọn, sự run rẩy của sương trong, ánh sáng của bông hoa nghiêng vào trang sách, của tiếng chim mang khát vọng bầu trời… Tập thơ hoa giấu mặtthả bình lặng một giọng điệu an nhiên như vậy.

 

 

7. Tạm kết

 

Đọc thơ trước hết là quá trình giao tiếp với con người ở trong thơ qua hệ thống ký hiệu, hình thức nghệ thuật. Không chỉ thế, đọc thơ còn là giao tiếp với tác giả – chủ thể sáng tạo văn bản thơ. Rộng hơn, đó là quá trình giao tiếp với thời đại, văn hóa, lịch sử nơi văn bản thơ được sinh thành (tương quan đồng đại). Sâu hơn, thơ còn dẫn người đọc đến với những trầm tích “liên văn bản”, hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này (tương quan lịch đại). Và, ở một góc nhìn khác, đọc thơ cũng là quá trình người đọc giao tiếp với bản thân, thấm thía, khai mở, khám phá thế giới của chính mình thông qua sự gặp gỡ với văn bản thơ. Như vậy, trong hình dung có tính lý tưởng, đọc thơ là phát huy hết mọi khả năng của việc giao tiếp được gợi ra từ hệ thống ký hiệu trong văn bản thơ.

Mai Văn Phấn là một thi sĩ luôn ắp đầy những khát khao sống đời, sống thơ, dấn thân để kiếm tìm – sáng tạo những giá trị mới cho nghệ thuật. Ông quan niệm, “Sáng tạo chính là cuộc vong thân, là quá trình phủ định bản ngã”[7], “là những cuộc cách mạng liên tiếp xảy ra trong mỗi nhà thơ”[8]. Hành trình thơ của ông, qua những miền mĩ cảm khác nhau, với những bản dạng cái tôi khác nhau, từ khởi đầu đến hiện tại là nỗ lực “vong thân” và dấn thân, nhằm “thiết lập không gian, không chỉ cho một bài thơ, mà dành cho cả giai đoạn sáng tạo nhà thơ vươn tới”[9]. Đi từ truyền thống mĩ học lãng mạn (đã trở thành cổ điển) đến hiện đại – hậu hiện đại rồi tĩnh tại trở về tân cổ điển, Mai Văn Phấn đã làm nên “sự tái hợp huy hoàng của nghệ thuật với chủ nghĩa nhân văn cao cả mà nhân loại có lúc đã sao nhãng, nhằm chống lại cơn tuyệt vọng thẩm mĩ của thế kỷ 20, để nghệ thuật hướng đến cái đẹp nhân bản hơn, cái đẹp không thể tách rời cái đẹp đạo đức và cái đẹp trí tuệ…”[10]. Nghiên cứu thơ Mai Văn Phấn trên một số bình diện chính như đã trình bày ở trên, thực chất là quá trình diễn giải những bước vong thân, những mải miết kiếm tìm vẻ đẹp nhân bản, nhân văn cao cả gắn với đạo đức và trí tuệ ấy. Đó cũng là tư tưởng nghệ thuật chi phối toàn bộ sáng tác của ông, dẫu qua từng chặng lại mang hình hài, bản dạng, phong thái khác nhau.

Trong một thời đại có nhiều biến động, nơi máy móc, công nghệ và nền văn minh kỹ trị đang từng bước lấn át con người, làm thay đổi rất nhiều giá trị, thơ Mai Văn Phấn gợi lại những ký ức nhân tính, thức tỉnh những u mê tha hóa, kiên trì gìn giữ và nuôi dưỡng giá trị nhân văn cao cả bằng tình yêu thương nồng hậu bao dung, bằng vẻ hồn nhiên ban sơ trong trái tim và bước chân con người. Đó có lẽ cũng là nguồn năng lượng bao trùm, xuyên suốt trên hành trình sáng tạo của thi sĩ.

 

Hà Nội 8/2024

N.T.T


_________________

[2] Mai Văn Phấn, Nhịp điệu vẽ lối đi, phê bình – tiểu luận, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2024, tr. 356 – 364.

[3] Thừa sai: chỉ người được phái đi truyền giáo (Chú thích của Mai Văn Phấn trong Nhịp điệu vẽ lối đi).

[4] Bí tích: những dấu hiệu của ân sủng do Đức Kitô thiết lập, ủy thác cho Hội Thánh. Bảy Bí tích gồm: Thanh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể, Hòa Giải, Truyền Chức Thánh, Xức Dầu Thánh và Hôn Phối (Chú thích của Mai Văn Phấn trong Nhịp điệu vẽ lối đi).

[5] Khái niệm “ơn gọi” có nguồn gốc từ Thánh Kinh. Khi Thiên Chúa gọi ai thì Ngài trao cho người ấy một sứ mệnh (Chú thích của Mai Văn Phấn trong Nhịp điệu vẽ lối đi).

[6] Mai Văn Phấn, Nhịp điệu vẽ lối đi, sđd, tr. 356 – 364.

[7] Mai Văn Phấn, “…như cởi bỏ giày dép trước khi vào nhà”, in trong Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011, tr. 342.

[8] Mai Văn Phấn, “Người đọc và đổi mới thi ca”, in trong Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn,  tr. 312.

[9] Mai Văn Phấn, “Không gian thơ”, in trong Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, tr. 319.

[10] Mai Văn Phấn, “Thơ Việt Nam đương đại, buổi ra đi và trở về”, http://vanchuongviet.org.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 4 5 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị