Ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương đại (nghiên cứu) – TS. Đoàn Tiến Lực
Ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương đại

“The persistence of memory” – Salvador Dalí
TS.
Đoàn Tiến Lực
10-11-2025
Abstract: This
study investigates the system of conceptual metaphors of time in contemporary
Vietnamese poetry from a cognitive linguistic perspective, with the aim of
identifying source domains, target domains, mapping patterns, and aesthetic
features associated with the poetics of the era. The corpus consists of
fourteen poetry collections by representative contemporary authors, analyzed
qualitatively within the framework of conceptual metaphor theory (Lakoff &
Johnson, 1980) in combination with statistical and classificatory methods. The
findings reveal twelve con Hu ceptual metaphors comprising a total of eighty-nine
mappings, encompassing both universal source domains (HUMAN, SPACE, OBJECT,
etc.) and culturally specific ones (POISON, DIRT, etc.). Notably, “mapping
indeterminacy” emerges as a salient aesthetic strategy, reflecting a poetics of
fragmentation, existential sensibility, and surrealist inspiration, while
simultaneously opening a “space of free association” for readers. The research
contributes to clarifying the characteristics of contemporary Vietnamese poetic
thought and provides supplementary data for the study of conceptual metaphors
in artistic language.
Keywords: conceptual metaphor, source domain, target
domain, mapping, contemporary Vietnamese poetry
1.
Mở đầu
Ngôn ngữ học tri nhận
(cognitive linguistics) là khuynh hướng nghiên cứu tiếp cận ngôn ngữ dựa trên
kinh nghiệm của con người về thế giới và cách thức con người tri giác, ý niệm
hoá thế giới với đơn vị trọng tâm là ý niệm. Theo Lakoff và Johnson
(1980/2022), “hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta, thông qua đó chúng ta
tư duy và hành động, về cơ bản là có tính ẩn dụ” [5, tr.23]. Vậy nên, cùng với
ý niệm, ẩn dụ ý niệm là một trong những vấn đề lí thuyết chính của ngôn ngữ học
tri nhận. Từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được xem là biểu hiện của
các cấu trúc tri thức nền tảng, giúp khái quát hoá những trải nghiệm cụ thể
thành tư duy trừu tượng, phản ánh cách thức con người xử lí thông tin, hình
thành khái niệm và kiến tạo tri thức thông qua ngôn ngữ dựa trên trải nghiệm
cảm quan và văn hoá xã hội.
Trong thơ Việt Nam đương
đại, sự chuyển dịch và biến đổi của ngôn ngữ nghệ thuật cho thấy sự đa dạng và
phức tạp trong cách nhà thơ dùng hình ảnh ẩn dụ để thể hiện cảm xúc, quan niệm
sống và phản ánh các vấn đề xã hội. Việc khai thác ẩn dụ ý niệm trong thơ sẽ
không chỉ cho thấy sự sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ của tác giả mà còn mở ra
góc nhìn mới về tư duy văn hoá trong bối cảnh hiện đại. Mặc dù đã có một số
nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong thơ Việt Nam như [1], [6], [7], [10],… song
vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật liên quan đến đặc trưng tư duy, cách thức
biểu hiện và giá trị nghệ thuật của chúng trong thơ Việt Nam, đặc biệt là thơ
Việt Nam đương đại.
Thời gian không phải là
một thực thể vật chất có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan. Nó biểu hiện và
được tri nhận qua sự kết hợp giữa các hiện tượng chuyển động trong thế giới vật
lí và cách con người khái niệm hoá chuyển động đó trong tư duy - ngôn ngữ. Nói
cách khác, thời gian vừa là hiện tượng tự nhiên vừa là cấu trúc tư duy xã hội,
giúp con người định vị mình trong dòng chảy vĩnh cửu của vũ trụ. Trong thơ ca,
thời gian không chỉ được phản ánh như một khái niệm vật lí tuyến tính mà còn là
biểu tượng của kí ức, sự đổi thay, cái chết,… Trong dòng chảy của thơ Việt Nam
đương đại, các nhà thơ đã thể hiện thời gian qua lăng kính ngôn ngữ giàu hình tượng
và chiều sâu tri nhận qua một trong những cơ chế nổi bật là ẩn dụ.
Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm
thời gian trong một số tập thơ đã đoạt Giải thưởng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam
từ năm 2010 đến nay (được xem là đại diện tiêu biểu cho các thành tựu nghệ thuật
và khuynh hướng tư duy nổi bật trong thơ ca đương đại), chúng tôi hướng đến mục
tiêu phân tích và hệ thống hoá các ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam
đương đại, qua đó làm rõ cơ chế tri nhận thời gian trong ngôn ngữ nghệ thuật, ý
nghĩa nghệ thuật của ẩn dụ này trong việc kiến tạo hình tượng, cảm xúc, thông
điệp, dấu ấn nghệ thuật của thơ ca Việt Nam đương đại, góp phần lí giải thơ như
một hệ thống biểu đạt mang tính khái niệm và văn hoá sâu sắc.
2.
Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
2.1.
Cơ sở lí luận
Nghiên cứu này dựa trên
nền tảng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận, một hướng tiếp cận ngôn ngữ nhấn mạnh
vào mối liên hệ giữa ngôn ngữ, tư duy, trải nghiệm của con người biểu hiện
trong các cấu trúc ý niệm và cơ chế tri nhận. Trong đó:
Ý
niệm (concept) được hiểu là một đơn vị cơ bản của tư
duy, được hình thành từ trải nghiệm cảm giác, vận động, không gian vật lí và
môi trường xã hội của người sử dụng ngôn ngữ nên phản ánh cách con người nhận
thức, trải nghiệm và tổ chức tri thức về thế giới thông qua ngôn ngữ. Mỗi ý
niệm là một miền (cấu trúc) ngữ nghĩa có thể là trừu tượng, có thể là cụ thể,
có thể mang tính chung cho nhân loại (tính phổ quát), hoặc mang nét riêng của
từng dân tộc, nền văn hoá, thậm chí từng cá nhân (tính đặc thù). Theo Lakoff và
Johnson (1980/2022), “các ý niệm cấu trúc cái chúng ta lĩnh hội được, cách ta
khám phá thế giới, và cách thức chúng ta liên hệ với những cá nhân khác. Do đó,
hệ thống ý niệm đóng một vai trò trung tâm trong việc xác định những thực tại
thường ngày của chúng ta” [5, tr.23].
Ẩn
dụ ý niệm (conceptual metaphor), được Lakoff và
Johnson đề xuất từ năm 1980, là quá trình chuyển di (transfer) hay ánh xạ
(mapping) có hệ thống giữa miền
nguồn (source domain) - nguồn tri thức quen thuộc, cụ thể
và miền đích (target
domain) - điểm đến của phép ánh xạ, chứa ý niệm cần hiểu, thường mang tính trừu
tượng, phức tạp, khó cảm nhận trực tiếp).
Ánh
xạ (mapping) là một hệ thống cố định của các tương ứng
giữa các yếu tố hợp thành miền nguồn và miền đích: “một/ một số phương diện (aspect)
của miền ý niệm Nguồn được “làm nổi bật” (hightlighting) - tức là được sử dụng
và được kích hoạt để ta hiểu miền ý niệm Đích và những phương diện còn lại thì
bị “che giấu” (hiding) đi” [9, tr.147]. Như vậy, cơ sở của ánh xạ là tập hợp
những điểm/ thực thể tương ứng giữa hai miền ý niệm nguồn và đích. Khi các
điểm/ thực thể tương ứng đó được kích hoạt, các ánh xạ có thể phóng chiếu mô
hình suy luận miền nguồn lên mô hình suy luận miền đích. Tất nhiên, các ánh xạ
không phải bất kì mà dựa trên trải nghiệm hàng ngày (nghiệm thân) và tri thức,
nghĩa là có tính có lí do - có thể giải thích được. Do đó, hiểu được một ẩn dụ
ý niệm cũng có nghĩa là hiểu được hệ thống sơ đồ ánh xạ của một cặp miền nguồn
- đích.
Nghiệm
thân (embodiment) là sự trải nghiệm cơ thể của con người
trong sự tương tác với môi trường sống và thông qua đó con người xây dựng nên
các ý niệm, hình thành những mô hình tri nhận để nhận thức thế giới. Kӧvecsec
nhấn mạnh: “Các ẩn dụ ý niệm được đặt nền tảng trên trải nghiệm cơ thể. Chính
bản chất nghiệm thân này lí giải vì sao chúng có tính phổ quát trong các ngôn
ngữ và nền văn hoá khác nhau.” [5, tr.169]. Theo quan điểm của tri nhận luận,
trải nghiệm của con người với thế giới xung quanh hình thành ý niệm và chi phối
đến phương thức con người hiểu biết thế giới. Nói cách khác, tri nhận của con
người phải được hiểu qua tính nghiệm thân.
Tóm lại, ngôn ngữ học tri
nhận xem ngôn ngữ không chỉ là hệ thống kí hiệu cấu trúc mà là phản ánh trực
tiếp của tư duy và kinh nghiệm sống của con người. Trong khuôn khổ này, ẩn dụ
(và hoán dụ ý niệm) được xác định là cơ chế nhận thức quan trọng, giúp con
người hiểu và biểu đạt những khái niệm trừu tượng thông qua những trải nghiệm
cụ thể hơn, có tính hình ảnh và dễ tiếp cận hơn về mặt nhận thức.
2.2.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
chính được dùng là phương pháp miêu tả ngôn ngữ học. Đây là phương pháp được
dùng để thực hiện việc miêu tả các cấu trúc ý niệm của miền nguồn, miền đích và
các ánh xạ. Cụ thể, phương pháp được thực hiện qua các bước: nhận diện (đọc ngữ
liệu, dựa vào khung lí thuyết ẩn dụ ý niệm, nhận diện các biểu thức ngôn ngữ
chứa ẩn dụ ý niệm) - Hiểu và miêu tả các miền ý niệm (miền nguồn, miền đích) và
ánh xạ miền nguồn - miền đích - Giải thích (làm rõ mạch lạc văn hoá của ẩn dụ
tri nhận).
Cùng với phương pháp
nghiên cứu miêu tả ngôn ngữ học, một số thủ pháp nghiên cứu cũng được sử dụng
gồm: thủ pháp thống kê và thủ pháp phân tích định lượng (khảo sát và tính đếm
số lượng, tuần suất xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm, các
ánh xạ), thủ pháp phân loại (xác lập tiêu chí và phân loại các ẩn dụ ý niệm
thời gian trong thơ Việt Nam đương đại), thủ pháp phân tích ánh xạ (được dùng
để phân tích, xác lập các ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích của ẩn dụ ý niệm
thời gian để nhận diện các loại/ mô hình ẩn dụ biểu hiện ý niệm thời gian (THỜI
GIAN LÀ CON NGƯỜI, THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ, THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT,…).
3.
Kết quả nghiên cứu
3.1.
Kết quả khảo sát
Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm
không thể không bắt đầu từ việc tiếp cận ẩn dụ ngôn từ (linguistic metaphors)
bởi ẩn dụ ngôn từ là những biểu thức ngôn ngữ biểu thị ẩn dụ ý niệm. Và để có
cơ sở ngữ liệu nghiên cứu, phân tích các ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt
Nam đương đại, chúng tôi đã thực hiện việc khảo sát và thống kê các các biểu thức
ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm thời gian trong 14 tập thơ thuộc phạm vi khảo sát
ngữ liệu. Kết quả, số lượng (tổng các lần xuất hiện) các biểu thức ngôn ngữ
chứa ẩn dụ ý niệm thời gian trong các tập thơ được khảo sát là 596.
Căn cứ vào việc nhận diện
miền nguồn, miền đích và ánh xạ, 596 biểu thức ngôn ngữ chứa các ẩn dụ ý niệm
thời gian được xác định gồm: THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI, THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ, THỜI
GIAN LÀ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN LÀ CHẤT LỎNG - DÒNG CHẢY, THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT,
THỜI GIAN LÀ ĐỘNG VẬT, THỜI GIAN LÀ TÀI SẢN, THỜI GIAN LÀ THỰC PHẨM, THỜI GIAN
LÀ LỬA, THỜI GIAN LÀ CHẤT BẨN, THỜI GIAN LÀ CHẤT ĐỘC, THỜI GIAN LÀ CON SỐ. Có
những ẩn dụ ý niệm thời gian xuất hiện nhiều lần qua các biểu thức ngôn ngữ như
ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN (132 biểu thức ngôn ngữ), THỜI GIAN LÀ CON
NGƯỜI (127 biểu thức ngôn ngữ), THỜI GIAN LÀ CHẤT LỎNG - DÒNG CHẢY (66 biểu
thức ngôn ngữ). Nhưng cũng có những ẩn dụ ý niệm chỉ xuất hiện một lần qua 01
biểu thức ngôn ngữ chứa nó như THỜI GIAN LÀ CHẤT BẨN, THỜI GIAN LÀ CHẤT ĐỘC,
THỜI GIAN LÀ CON SỐ. Những số liệu nhiều hay ít này đều có ý nghĩa quan trọng:
nhiều phản ánh sự phong phú, toàn diện, ít phản ánh sự cá biệt, độc đáo.
3.2. Các
loại ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương đại
3.2.1.
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI
CON NGƯỜI là sinh vật bậc
cao, có cơ thể vật chất, ý thức và đời sống xã hội - văn hoá. Trong tri nhận,
con người được nhận diện qua đặc tính sinh học (sinh trưởng, vận động, cảm
nhận, sinh sản, lão hoá, chết), đặc tính tâm lí (cảm xúc, ý chí, nhận thức) và
đặc tính xã hội (ngôn ngữ, quan hệ, vai trò, chuẩn mực). Con người vừa là cá
thể độc lập vừa là thành viên của cộng đồng, có khả năng sáng tạo, lao động và
thay đổi môi trường sống. THỜI GIAN là diễn tiến trừu tượng, không có hình dạng
hay cảm xúc trong thực tế; dùng để chỉ trình tự và độ dài của các sự kiện; được
con người tri nhận qua sự thay đổi và vận động của thế giới. Trong trải nghiệm
thường nhật, thời gian có thể được đo đếm (giây, phút, giờ, ngày…), chia thành
các đơn vị (quá khứ, hiện tại, tương lai), và gắn với chu kì tự nhiên (ngày -
đêm, mùa vụ, tháng, năm…). Thời gian mang tính tuyến tính không đảo ngược, liên
tục diễn tiến.
Trong thơ Việt Nam đương
đại, những đặc tính của con người (biết chào
hỏi, đi
lại, rủ
rê, ngủ, khóc, cõng, vấp ngã, vuốt ve, sinh nở,...) được ánh xạ sang thời
gian, biến thời gian thành một nhân vật sống động, có quan hệ tương tác với con
người và thiên nhiên. Các ánh xạ cụ thể là con người có diện mạo, hình thể thời
gian cũng vậy: mắt thu
đen láy/ có một gã lén vào (Trần Lê Khánh), Thu chưa in dấu chân thềm/ Hạ còn leo lét mãi
bên kia bờ (Nguyễn Phúc Lộc Thành), hoàng hôn / là mái tóc dài/ của mùa hạ/ nàng
chỉ chải đến vai (Trần Lê Khánh); hoạt động có ý thức của con
người ánh xạ tới vận động của thời gian: Lay gọi anh bằng câu quen thuộc/ Ngày đến rồi! (Mai
Văn Phấn), Ban mai lay sen thức (Nguyễn
Bảo Chân), Tháng ba dắt cơn mưa về (Trần
Kim Hoa), thời gian ném phao cho từng số
phận (Trần Quang Đạo); như một chủ thể văn hoá có ý thức, thời
gian được hình dung như người giao tiếp, tương tác, hiện diện trong đời sống
sinh hoạt: Tháng Giêng đưa Tết một mình
sang sông (Nguyễn Tiến Thanh), Nghe thời gian đi guốc gõ qua đời (Nguyễn
Tiến Thanh); trạng thái, tâm tư của con người ánh xạ tới những cảm nhận trạng
thái của thời gian: Một
ngày mới chào tôi bằng những mảnh vỡ (Phạm Đương), Em đi mắt hạ liu riu (Nguyễn
Phúc Lộc Thành), Ai
khóc mà mắt hạ cay (Nguyễn Phúc Lộc Thành); phẩm chất, tính
cách đặc trưng của con người ánh xạ tới cảm nhận về trạng thái, vẻ đẹp của thời
gian: tháng mười hai dịu dàng và vội
vã/ tôi cũng tự biết mình nhưng rồi lại quên/ tháng mười hai nhu mì như cúc hoạ
mi/ ngoại thành về phố (Trần Kim Hoa); con người có số phận,
sinh - tử hữu hạn, thời gian cũng vậy: Hoàng
hôn trở dạ ven đường / sinh ra gã ngốc trần truồng tâm can (Trần
Lê Khánh); Hạ hấp hối, thu non phơi xác (Nguyễn
Phúc Lộc Thành); Chậm
thôi nhé, chậm thôi, rồi cũng đến/ Tháng 9 qua đời, mây vẫn trôi… (Nguyễn
Tiến Thanh), thời gian xuôi cánh tay tuyết
lạnh (Đào Quốc Minh),… Từ những ánh xạ như vậy giữa miền nguồn CON
NGƯỜI và miền đích THỜI GIAN, thời gian trong thơ Việt Nam hiện đại hiện lên có
khi là một người bạn: một
ngày mới chào tôi bằng những mảnh vỡ (Phạm
Đương); có khi là một người tình: ngày
vẫn cài
lên tóc/
sợi gió xanh mơ màng (Trần Kim Hoa); có khi là một vị
khách vươn hai cánh tay trần và ấm
áp/ mà không thể nào níu lại khách mùa thu (Đào Quốc Minh), gã
say rượu chiều ngả nghiêng say trên
những hàng cây bụi (Phạm Đương); có khi là người thợ nhuộm: Chiều nhuộm vàng những chiếc lu Bàu
Trúc (Phạm Đương); và có khi lại là một vận động viên: Biết có ai được may mắn đến gần/ Thời gian về
đích (Mai Văn Phấn),…
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ
CON NGƯỜI dựa trên trải nghiệm thân thể: chúng ta hiểu rõ thế giới con người
hơn thế giới trừu tượng nên gán cho thời gian các thuộc tính người để nắm bắt
và giao tiếp về nó. Có lẽ vậy, các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm THỜI
GIAN LÀ CON NGƯỜI rất phong phú, biểu thị sự sinh động trong tri nhận về thời
gian của các nhà thơ Việt Nam.
3.2.2.
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ
VẬT THỂ là bất kì thực thể
hữu hình nào chiếm một vị trí xác định trong không gian, có hình dạng, kích
thước và khối lượng nhất định. Trong tri nhận, vật thể được nhận biết qua các
giác quan, đặc biệt là thị giác và xúc giác, với các thuộc tính như màu sắc,
kết cấu, độ cứng - mềm, khả năng di chuyển hoặc bị di chuyển. Vật thể có thể
tách biệt khỏi các vật thể khác, tồn tại độc lập hoặc nằm trong một tập hợp lớn
hơn và có thể chịu tác động của lực, thay đổi vị trí, trạng thái. Nhờ đặc tính
cụ thể, rõ ràng và giàu trải nghiệm cảm giác, “vật thể” trở thành miền nguồn cơ
bản cho nhiều ẩn dụ ý niệm, giúp con người hình dung các khái niệm trừu tượng
như thời gian, cảm xúc hay ý tưởng như những thứ có hình khối, giới hạn và khả
năng tương tác.
Trong thơ Việt Nam đương
đại, thời gian được tri nhận như một đối tượng vật chất tồn tại độc lập, có thể
tác động vật lí lên nó hoặc để nó tác động lên con người và sự vật, qua đó,
biểu đạt hình dung về các khái niệm trừu tượng của thời gian (ngày, tháng, mùa,
năm)… Các ánh xạ cụ thể là vật thể có thể di chuyển và thời gian cũng vậy (thời
gian giống vật đang di chuyển ngang qua hoặc về phía người nói): chiều nhẹ lướt qua sông (Trần
Kim Hoa); vật thể có thể chứa đựng thì thời gian là vật chứa những trải nghiệm,
cảm xúc (thời gian như túi, hũ, giếng đựng nỗi buồn, kí ức): em cắt tháng chín ra khâu thành những túi nhỏ
đựng sầu mùa thu (Trần Lê Khánh); vật thể có thể phân mảnh,
nhỏ lẻ, rơi vãi, đong đếm thì thời gian cũng vậy: nhặt được ngày tôi không nàng (Nguyễn
Phúc Lộc Thành); đánh
rơi chuỗi hạt thời gian trong đáy giếng lợi danh” (Trần Kim
Hoa); vật thể có thể bị hỏng, rách thì thời gian cũng có thể bị hư hại, rạn
vỡ: gió đông thổi rách chiều (Trần
Lê Khánh); vật thể có thể tái cấu trúc hoặc sáng tạo lại thì thời gian cũng có
thể sửa, vá lại: em
về sửa lại mùa đông (Trần Lê Khánh); vá vết thương khuya (Phạm
Đương); vật thể có thể mang, vác và theo đó có thể bị đánh rơi thì thời gian
cũng có thể vận chuyển, trôi tuột khỏi tay: Con bồ câu đã về / Mang cả buổi chiều / Kẹp trong đôi cánh (Mai
Văn Phấn), đánh rơi chuỗi hạt thời gian
trong đáy giếng lợi danh (Trần Kim Hoa); Vật thể có thể được
mặc, khoác, thời gian như quần áo, có thể thay đổi theo ý muốn: em khoác sơ sơ một sáng chủ nhật mới tinh (Trần
Lê Khánh); vật thể có thể bị chôn vùi, thời gian bị khuất lấp, cất giấu: Ta chôn ngày cũ ở nơi tim mình (Nguyễn
Tiến Thanh).
Nghiệm thân của ẩn dụ ý
niệm THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ xuất phát từ kinh nghiệm cảm quan và thao tác trực
tiếp của con người với thế giới vật chất. Trong đời sống, chúng ta thường xuyên
nhìn thấy, cầm nắm, di chuyển, cắt, khâu, phá vỡ, hay làm biến đổi các vật thể,
đồng thời nhận biết hình dáng, kích thước, trọng lượng của chúng. Chính trải
nghiệm thân thể này khiến con người dễ hình dung thời gian như những vật thể
hữu hình, có thể chạm, nắm, chứa, chia tách, sửa chữa hoặc tiêu hủy. Việc ánh
xạ từ vật thể sang thời gian vì thế phản ánh cách chúng ta gắn ý niệm trừu
tượng với những kinh nghiệm cụ thể, mang tính cảm giác - vận động.
3.2.3. Ẩn
dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN
KHÔNG GIAN là miền trải
rộng ba chiều nơi mọi vật và hiện tượng tồn tại, vận động và tương tác, được
con người tri nhận qua các quan hệ vị trí như trong - ngoài, trên - dưới, gần -
xa. Nó có thể hữu hạn hoặc vô hạn, mở rộng hay thu hẹp trong cảm giác, và gắn
với hướng di chuyển, điểm xuất phát, đích đến. Con người có thể di chuyển trong
không gian theo các tuyến đường khác nhau; có thể chia nhỏ thành các khu vực,
đoạn, tầng, điểm giữa; có ranh giới và ngưỡng.
Trong thơ ca Việt Nam
đương đại, ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN phản ánh xu hướng tự nhiên của
tư duy con người khi hình dung về thời gian thông qua trải nghiệm vận động và
định hướng trong không gian. Trong cách tri nhận này, các đơn vị thời gian được
xem như những “khoảng không” có kích thước, ranh giới, vị trí, hoặc hướng di
chuyển. Điều này cho phép người nói - người viết biểu đạt trạng thái, tính chất
và sự biến chuyển của thời gian bằng những từ ngữ vốn dành để miêu tả không
gian vật lí. Các ánh xạ cụ thể gồm đặc tính chiều kích rộng, hẹp, chật, thênh
thang của không gian ánh xạ tới cảm nhận về thời lượng (thời gian được xem như
một vùng không gian có thể đo lường về bề ngang hoặc sức chứa; có thể “thênh
thang” khi kéo dài, dư dả hoặc “chật hẹp” khi gấp gáp, thiếu thốn): tháng ngày hoá thênh thang (Trần
Kim Hoa), Mùa thu thì quá chật / Sao che
nổi chân trời (Nguyễn Tiến Thanh); tính chất theo tuyến, hướng
di chuyển, có thể vượt qua của không gian ánh xạ tới hướng vận động, diễn tiến
về tương lai qua các chặng, quãng của thời gian (các mốc thời gian được xem như
các điểm hoặc đoạn trên một hành trình trong không gian; con người “đi qua” các
giai đoạn thời gian như di chuyển qua các địa điểm): nhà sư một bước qua xuân (Trần
Lê Khánh), Cây cầu bắc qua tháng ngày (Mai
Văn Phấn); không gian có thể chứa đựng, có thể bị chiếm lĩnh, cư trú, ẩn náu
ánh xạ tới sự lưu giữ, chứa đựng kí ức, kỉ niệm của thời gian: tại sao những cô gái / thích xỏ váy / chui vào
mùa đông”(Trần Lê Khánh); ngày
mới / không chứa hết nổi / ánh sáng bình minh (Trần Lê
Khánh); Chuỗi âm thanh tràn dâng ngày (Mai
Văn Phấn), Anh sung sướng mở ra / Gặp ý
nghĩ từng quên trong quá khứ (Mai Văn Phấn), người đàn bà giấu xa xăm / đằng sau cánh cửa
quét rằm vào mai (Trần Lê Khánh); không gian có ranh giới,
chướng ngại và thời gian cũng vậy: Đưa
tay qua khe hẹp hoàng hôn (Mai Văn Phấn), Người mang theo một trời sen / Đang vào úa để
mở then cửa mùa (Nguyễn Phúc Lộc Thành).
Nghiệm thân của ẩn dụ ý
niệm THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN xuất phát từ trải nghiệm cảm quan - vận động cơ
bản của con người trong thế giới vật lí. Chúng ta luôn tồn tại và di chuyển
trong không gian, đồng thời tri nhận các sự kiện theo một trật tự tuyến tính
gắn với vị trí và hướng đi. Việc trải qua thời gian được hình dung giống như đi
qua các điểm mốc trong không gian hoặc đưa các sự kiện, mùa vụ, ngày tháng
“vào”, “ra” hay “qua” những miền không gian cụ thể. Nhờ vậy, các khái niệm trừu
tượng về thời gian được định hình, định vị và dễ dàng thao tác thông qua các sơ
đồ chuyển động, khoảng cách, hướng, và ranh giới trong không gian.
3.2.4. Ẩn
dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CHẤT LỎNG - DÒNG CHẢY
Trong trải nghiệm vật lí,
chất lỏng có thể tồn tại ở nhiều dạng (nước, sông, suối, mưa…) và đặc trưng bởi
khả năng chuyển động liên tục, thay đổi hình dạng theo không gian chứa, có thể
cạn, đầy, loãng, khuấy và khó nắm bắt. Dòng chảy gợi cảm giác về sự trôi đi
không thể đảo ngược, mang tính vô hình nhưng tác động rõ rệt đến môi trường mà
nó chảy qua.
Trong thơ Việt Nam đương
đại, thời gian được tri nhận như chất lỏng hay một dòng trôi liên tục, cuốn
theo mọi sự kiện, cảm xúc và con người, không thể níu giữ hay quay ngược. Các
ánh xạ cụ thể gồm sự vận động liên tục của dòng chảy ánh xạ tới sự trôi chảy
không ngừng của thời gian (dòng nước trôi không dừng, cũng như thời gian luôn
vận động từ quá khứ đến tương lai): Tháng
năm trôi như những cánh buồm không trở về bến cũ (Trần Kim
Hoa); Bao thế kỉ trôi qua/ vẫn đau
đáu bên trời ước hẹn hồng nhan (Trần Kim Hoa), đã nghìn năm trôi qua (Đào
Quốc Minh); dòng chảy có thể nhanh, chậm, tùy cảm nhận cũng như thời gian trôi
nhanh hoặc chậm theo trạng thái tâm lí (nước có lúc chảy xiết, lúc chậm rãi;
thời gian cũng có thể bị cảm nhận “trôi nhanh” khi vui, “trôi chậm” khi
buồn): ban trưa trôi nhanh trên một
cánh chuồn (Trần Kim Hoa); dòng chảy bị khuấy, vẩn đục ánh xạ
tới thời gian bị tác động, biến đổi trạng thái (nước khi bị khuấy sẽ mất sự
trong trẻo; thời gian khi bị “khuấy” mang tính ẩn dụ cho biến động, hỗn
loạn): Ai khuấy hạ để trời ngầu (Nguyễn
Phúc Lộc Thành), Chân
em ngày sớm khuấy ngầu bình minh (Nguyễn Phúc Lộc Thành); dòng
chảy có thể cạn hoặc đầy ánh xạ tới thời gian có thể hết hoặc tràn đầy trong
cảm nhận (dòng nước khi cạn kiệt để lộ khoảng trống; thời gian cạn kiệt gợi ý
về sự mất mát, giới hạn của đời người hay mùa vụ): Mùa sen đã cạn (Nguyễn Phúc
Lộc Thành), đổ thêm một ngày khô kiệt nữa
cho nhau (Đỗ Doãn Phương); Dòng chảy cuốn trôi mọi vật cũng
như thời gian cuốn đi kí ức, sự kiện, con người (dòng nước mang theo phù sa,
vật thể; thời gian mang đi kỉ niệm, tuổi trẻ): những thập niên trôi qua gió xoá đi rồi (Trần Kim
Hoa); dòng chảy có thể dẫn đến mất phương hướng cũng như thời gian trôi khiến
con người lạc lối (dòng sông mênh mông có thể làm mất dấu bờ; thời gian dài
dằng dặc khiến con người mất phương hướng sống): lạc bến bờ lạc dòng thế kỉ (Đào
Quốc Minh).
Con người trải nghiệm thời
gian như trải nghiệm một dòng nước: ta sống “trong” dòng chảy ấy, bị cuốn đi dù
muốn hay không, cảm nhận được sự thay đổi khi dòng chảy nhanh, chậm, trong,
đục. Những trạng thái như cạn,
đầy, khuấy, hay lạc
dòng phản ánh trực tiếp kinh nghiệm vật lí của chúng ta với
chất lỏng - dòng chảy.
3.2.5.
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT
THỰC VẬT có vòng đời từ
nảy mầm, sinh trưởng, ra hoa, kết trái, úa tàn; có thể bị nhổ bỏ, rơi rụng; tồn
tại theo mùa vụ; màu sắc, hương thơm thay đổi theo chu kì sống.
Trong thơ ca Việt Nam
đương đại, thời gian được tri nhận như một cơ thể thực vật có đời sống hữu hạn,
trải qua các giai đoạn sinh trưởng và tàn úa, có thể được gieo trồng, chăm bón,
thu hoạch hoặc bị tàn phá. Các ánh xạ cụ thể gồm: sự nảy mầm, hé nụ của thực
vật ánh xạ tới sự bắt đầu, khởi phát của thời gian (thời gian được ví như hạt
giống, mầm non hoặc nụ hé mới xuất hiện, mở ra chu kì sống mới): Mầm khuya nhú dưới tay mềm / Thu vuốt mắt hạ.
Trăng têm mặt người (Nguyễn Phúc Lộc Thành), ta gọi nàng, cô ơi! / đấy là lúc mùa xuân hé
nụ (Trần Quang Quý); sự úa tàn, rụng rơi của thực vật ánh xạ
tới sự kết thúc hoặc mất mát của thời gian (thời gian trôi qua, nó giống như lá
vàng rụng, hoa héo tàn - dấu hiệu của một chu kì sống đã khép lại): Hôm qua mùa vẫn còn tươi / Mà nay sen đã mấy
mươi úa tàn (Nguyễn Phúc Lộc Thành), Tuổi cũ vàng trong lá / Hoa niên rụng trên
thềm (Nguyễn Tiến Thanh); thuộc tính canh tác có thể can
thiệp, thu hoạch hoặc nhổ bỏ cây trồng ánh xạ đến việc “tác động” vào thời gian
như một người làm vườn tác động vào cây - nhổ bỏ, cắt tỉa, thu hoạch, tích
trữ: nhà sư / nhổ ngày / như nhổ cỏ (Trần
Lê Khánh), ước gì em là chim nhỏ cánh ướt
/ ngày ngày nhặt từng hạt thời gian anh (Trần Hùng); chu kì
của mùa vụ ánh xạ tới chu kì của thời gian (thời gian mỗi năm lại “mọc” trở lại
như một mùa vụ quen thuộc): Mùa
thế đó, cứ mỗi lần tháng Chạp / Mọc lên từ hốt hoảng mắt ai (Nguyễn
Tiến Thanh); sắc màu, hương vị của cây lá, hoa trái ánh xạ tới sắc màu, hương
vị của thời gian (mỗi giai đoạn của thời gian mang một sắc thái cảm xúc giống
như từng giai đoạn phát triển của thực vật): Cài lên da dẻ trùng trùng / Cho màu ngọc thể mở bừng đêm non (Nguyễn
Phúc Lộc Thành), Rơi
đi mấy cánh chực chờ / Thu non như thể khóc hờ hạ phai (Nguyễn
Phúc Lộc Thành).
Ẩn dụ THỜI GIAN LÀ THỰC
VẬT phản ánh trải nghiệm sống động và trực tiếp của con người với thiên nhiên.
Trong văn hoá và văn minh nông nghiệp Việt Nam, thời gian luôn gắn với chu kì
gieo trồng và mùa vụ, khiến việc hình dung nó như một quá trình sinh trưởng -
tàn úa của thực vật trở nên gần gũi. Người sáng tạo thơ ca đã tận dụng vốn trải
nghiệm này để biến thời gian trừu tượng thành hình ảnh cụ thể, cảm xúc và hữu
hình, cho phép người đọc “cảm” thời gian qua sắc, hương và nhịp sống của cây
cỏ.
3.2.6.
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ ĐỘNG VẬT
ĐỘNG VẬT là những sinh thể
có khả năng vận động (bò, trườn, bay, bơi, chạy, phi…), cảm nhận và phản ứng
với môi trường, tồn tại nhờ tiêu thụ chất hữu cơ. Chúng có những đặc tính sinh
học của sinh thể như sinh sản, phát triển, già yếu và có thể đối mặt với nguy
cơ tuyệt chủng. Động vật đa dạng về hình dáng, tập tính, tiếng kêu và có thể
thuần hoá hoặc hoang dã, mang nhiều giá trị biểu tượng trong văn hoá. Trong tri
nhận, động vật gắn với những phẩm chất cụ thể như sức mạnh, nhanh nhẹn, hung dữ
hay hiền lành, đáng yêu,…
Trong thơ ca Việt Nam
đương đại, thời gian được hình dung như một sinh thể sống động, có chu kì tồn
tại hữu hạn, biết di chuyển, len lỏi, suy yếu, và có thể biến mất vĩnh viễn như
động vật. Các ánh xạ cụ thể gồm: nguy cơ có thể chết, tuyệt chủng của động vật
ánh xạ tới sự mất mát, kết thúc, sự hữu hạn của thời gian: Cả mùa hạ ấy cũng đang chết dần (Nguyễn
Phúc Lộc Thành), anh
chầm chậm nhìn / phút giây tuyệt chủng (Phạm Đương); khả năng
vận động bò, trườn, di chuyển của động vật ánh xạ tới sự chuyển dịch liên tục,
đôi khi âm thầm, của thời gian: Hoàng
hôn leo lắt mà trườn sang đêm (Nguyễn Phúc Lộc Thành); vận
động vào đường cùng, bế tắc của động vật ánh xạ tới sự tích tụ, lắng đọng và
không thể đảo ngược của thời gian: thời
gian chui vào / những nếp nhăn / nhưng không ra lại được (Trần
Lê Khánh).
Có thể thấy các ánh xạ
trên đều bắt nguồn từ trải nghiệm trực tiếp của con người với động vật: quan
sát chúng sinh ra, lớn lên, di chuyển, ẩn nấp, mắc bệnh, chết hoặc tuyệt chủng.
Kinh nghiệm này được dùng để cụ thể hoá và cảm xúc hoá khái niệm trừu tượng
thời gian, giúp người đọc cảm nhận được sự sống động nhưng hữu hạn, mong manh
của nó.
3.2.7. Ẩn
dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ TÀI SẢN
TÀI SẢN là mọi thứ có giá
trị mà con người hoặc tổ chức sở hữu, bao gồm cả dạng hữu hình (nhà cửa, đất
đai, tiền bạc…) và vô hình (tri thức, uy tín, thương hiệu…). Chúng có thể được
sử dụng, trao đổi, lưu giữ hoặc sinh lợi, đồng thời cần được bảo vệ trước nguy cơ
mất mát. Trong tri nhận, tài sản gắn liền với ý niệm về giá trị, quyền sở hữu
và khả năng tích lũy.
Trong thơ ca Việt Nam
đương đại, thời gian được tri nhận qua lăng kính của tài sản - một dạng giá trị
hữu hạn, hữu hình, có thể sở hữu, sử dụng, mất đi, trao đổi, hay cất giữ... Các
ánh xạ ý niệm hình thành từ chính cách con người xử lí, định giá và sử dụng tài
sản trong đời sống, bao gồm: Việc trải qua/ sử dụng một thời lượng cho một việc
gì đó ánh xạ từ việc chi tiêu tiền bạc, con người không chỉ “có” thời gian mà
còn “xài” thời gian như một khoản tiền trong tay: Anh tiêu nhẵn một ngày chủ nhật/ một ngày em/ đợi chật phương chờ (Trần
Quang Quý); thời gian (tuổi trẻ) là tài sản, là khoản vốn có thể cầm cố hoặc
đánh đổi (hi sinh thời gian sống) lấy thứ khác: Đỏ hoa phượng, cháy ngang trời hạ lửa/ Quán
ven đường ta ‘cắm’ tuổi thanh xuân (Nguyễn Tiến Thanh); Tài
sản có thể hao hụt, mất đi nên cần đo đếm, tiết kiệm và thời gian cũng
vậy: ngay cả bước chân ta/ cũng làm
mất thời gian (Trần Lê Khánh), nhớ anh / đong lại buổi chiều/ xem em hụt mất / bao nhiêu hững hờ (Trần Lê
Khánh); tài sản có giá trị biến đổi và thời gian cũng vậy: ngày tháng bây giờ/ rẻ hơn trước nhiều (Trần Lê
Khánh); tài sản có thể mua và thời gian cũng vậy, có thể mua để kéo dài sự tồn
tại: những chiếc lá vàng / mua thêm
thời gian / cho mùa thu chết (Trần Lê Khánh); tài sản quý giá
cần cất giữ ánh xạ sang ý niệm cất giữ kho báu thời gian: người cất giữ kho báu thời gian (Trần
Lê Khánh); tài sản có thể dùng để đầu tư và thời gian cũng thế, để đạt được
trạng thái tinh thần hay kĩ năng, con người phải “tốn” thời gian như bỏ vốn đầu
tư: tốn rất nhiều thời gian
học cách tĩnh tâm (Trần Kim Hoa).
3.2.8.
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ THỰC PHẨM
THỰC PHẨM là mọi dạng vật
chất dùng để ăn hoặc uống nhằm nuôi dưỡng và duy trì sự sống. Gồm hai loại
chính: thực phẩm ăn (dạng rắn/đặc như ngũ cốc, rau quả, thịt, sữa…) có đặc tính
phải nhai, giàu dưỡng chất và đa dạng hương vị; thực phẩm uống (dạng lỏng như
nước, sữa, nước trái cây, đồ uống giải khát…) có đặc tính dễ hấp thụ, chủ yếu
cung cấp nước và một số dưỡng chất, đồng thời có thể giải khát hoặc kích thích.
Trong thơ Việt Nam hiện đại, các đặc tính bản thể hay dinh dưỡng của thực phẩm
được ánh xạ sang thời gian với các biểu hiện cụ thể gồm: Thời gian là chất lỏng
có thể rót, uống, pha:
Hồ đầy - ly, cốc thời gian/ Khởi lên đại tiệc giữa thành phố mây; Ta đem rượu
đắng mùi men / Rót ngày xưa xuống công viên thuở nào (Nguyễn
Tiến Thanh), Chú cháu mình uống cạn bốn
mươi năm (Phạm Đương),
Những chiếc lá vàng / thức dậy sớm / pha bình minh / cho một ông lão (Trần
Lê Khánh); thời gian là món ăn có thể nhai, nuốt, tiêu hoá: Chiếc đồng hồ treo tường / đang nhả thời
gian ra / hay đang nhai ngấu nghiến (Trần Lê Khánh); thời gian là thức ăn được
mớm, đút cho để nuôi dưỡng: Ông
trời / nhỏ từng giọt ngày xuống / ta là chú chim non / há miệng chờ mớm (Trần
Lê Khánh); thời gian là món ăn được chế biến, ủ, làm thơm: Mùa xuân / nàng ủ kĩ chiều / cho thơm buổi
sáng (Trần Lê Khánh).
3.2.9.
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ LỬA
LỬA là hiện tượng
vật lí - hoá học có đặc tính là nguồn nhiệt mạnh, lan nhanh, phát sáng, tiêu
hao nhiên liệu, có khả năng biến đổi trạng thái vật chất (làm chảy, làm cháy,
phá hủy). Lửa mang lại các lợi ích cho sưởi ấm, nấu nướng, rèn luyện công cụ…,
nhưng cũng mang lại nguy hiểm như thiêu rụi, hủy diệt, gây thương tích… Trong
thơ Việt Nam hiện đại, các đặc tính vật lí, quá trình và tác động của lửa được
ánh xạ sang thời gian. Sự trôi qua của thời gian được cảm nhận qua trải nghiệm
thân thể với lửa: con người cảm nhận nhiệt, ánh sáng, sức nóng, sự hao mòn, từ
đó gán cho thời gian các tính chất tương tự. Các ánh xạ cụ thể gồm: ánh (sáng)
lửa leo lét ánh xạ đến thời gian (mùa hạ) sắp hết, mong manh và yếu ớt: Thu chưa in dấu chân thềm/ Hạ còn leo lét mãi bên kia bờ (Nguyễn
Phúc Lộc Thành); đặc tính nhiệt hữu ích cho sự sống (biểu tượng cho sự hiện
sinh sự sống) ánh xạ đến thời gian tuổi trẻ đầy năng lượng sống của con
người: Có thể ban mai trong tôi sắp
tắt/ có
thể dòng hồng cầu mảnh mai trong tôi sắp ngừng (Trần Hùng);
đặc tính có thể thắp lên của lửa và giữ cho lửa không tắt ánh xạ đến mong muốn
khởi lên và duy trì thời gian: và
nấm thắp lên mùa xuân thật xa nơi ta cùng nảy mầm (Trần
Hùng), Xin dừng chân trước chiều hôm/ Thắp hoàng hôn suốt một cơn say dài (Nguyễn
Tiến Thanh); tác động thiêu đốt của lửa ánh xạ tới thời gian mùa hè (bùng lên
dữ dội, đốt cháy tâm hồn, gây đau đớn): làm
sao chịu nổi ngoài kia phượng rơi/ châm lên mùa hè xé lòng cát cát (Trần Hùng).
3.2.10.
Các ẩn dụ ý niệm THỜI
GIAN LÀ CHẤT BẨN, THỜI GIAN LÀ CHẤT ĐỘC VÀ THỜI GIAN LÀ CON SỐ
Ẩn
dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CHẤT BẨN
CHẤT BẨN là vật chất gây
vấy bẩn, làm mất vẻ nguyên sơ, có thể bám lên bề mặt, cần lau rửa để sạch. Trong thơ Việt Nam đương
đại, sự trôi qua của thời gian được tri nhận giống như việc chất bẩn bám vào
một bề mặt tinh khiết, làm giảm sự tươi mới, phá vỡ vẻ đẹp ban đầu: Sớm ra ngồi lau bóng mình/ Đêm đang sạch, sao
bôi bình minh lên (Nguyễn Phúc Lộc Thành). Thời gian (bình minh) được tri nhận như một
tác nhân gây ô nhiễm (bị bôi
lên đêm), làm mờ nhòe bản thể và sự tinh khôi. Bình minh, vốn
là biểu tượng tích cực, bị đảo ngược thành thứ “bôi bẩn”, cho thấy cái nhìn
phản tư về sự trôi chảy của thời gian.
Trong tư duy khái niệm, ta
thường liên hệ những thay đổi tiêu cực (hao mòn, già đi, mất vẻ đẹp ban đầu)
với sự bám bẩn. Ở đây, thời gian được đồng nhất với chất bẩn, đặc tính làm mờ
nhòe bản thể và sự tinh khôi của thời gian bởi cả hai đều để lại “dấu vết”
không mong muốn trên đối tượng. Ẩn dụ này dựa trên trải nghiệm thân thể
(embodied experience): chúng ta cảm thấy cần lau, rửa, giữ sạch khi vật bị bẩn
chuyển sang ý niệm về việc muốn giữ thời gian trong trạng thái tinh khiết.
Ẩn
dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CHẤT ĐỘC
CHẤT ĐỘC là một dạng vật
chất có khả năng gây tổn hại, suy yếu hoặc hủy hoại cơ thể sống, thường tiềm ẩn
nguy hiểm và khó nhận biết hoàn toàn. Trong kinh nghiệm sống, chất độc gắn liền
với ý niệm về sự xâm nhập và lan truyền, có thể tác động tức thời hoặc âm ỉ lâu
dài, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, thậm chí gây chết chóc. Nó mang giá trị cảm
xúc tiêu cực, khơi gợi cảm giác sợ hãi, ghê sợ. Trong thơ Việt Nam đương đại,
thời gian buổi tối không còn là thời điểm nghỉ ngơi mà trở thành một tác nhân
độc hại, mang tính chất xâm nhập và phá hoại: Buổi tối độc như rắn/ Làm xanh cây quanh rừng/ Buổi tối độc như
kiến/ Đổi đen màu lá xanh (Đỗ Doãn Phương). Cây và lá là biểu
tượng của sự sống, bị thời gian làm biến đổi, cho thấy thời gian không chỉ trôi
qua mà còn đầu độc sự sống. Buổi
tối, một thời đoạn, được nhân hoá thành sinh vật độc, vừa trực
tiếp vừa ngấm ngầm phá vỡ sự cân bằng tự nhiên. Sự biến đổi màu sắc (“làm xanh
cây” và “đổi đen màu lá xanh”) gợi ý thời gian không chỉ hủy diệt mà còn tạo ra
sự biến đổi bất thường, có thể đẹp nhưng tiềm ẩn nguy hiểm. Trải nghiệm thân
thể cho thấy: chất độc gây ra tổn hại hoặc biến đổi không mong muốn, vì vậy nó
là miền nguồn phù hợp để hình dung về tác động tiêu cực của thời gian: sự nhiễm
độc của chất độc ánh xạ đến tác động tiêu cực của thời gian.
Ẩn
dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CON SỐ
CON SỐ là kí hiệu biểu thị
số lượng, thứ tự hoặc vị trí của các đối tượng trong tư duy và giao tiếp, có
các đặc tính định tượng, đặc tính phân loại (chẵn, lẻ), đặc tính hình thức hoặc
quy ước (làm tròn, cách biểu diễn…). Trong tri giác của con người, con số gắn
với tính chính xác, khách quan, khả năng đo lường,… Trong thơ Việt Nam đương
đại, thời gian quá khứ được tri nhận như một giá trị số học, có thể được “làm
tròn” - tức là đơn giản hoá, làm cho dễ chịu hơn, xoá đi những chi tiết phức
tạp hoặc đau đớn: Quá
khứ của chúng ta cũng sẽ được làm tròn (Đỗ Doãn Phương). Việc “làm tròn” gợi đến
thao tác kĩ thuật hoá kí ức, như thể con người đang xử lí thời gian bằng tư duy
toán học, phi cảm xúc. Ẩn dụ này phản ánh một cách tri nhận thời gian hiện đại:
thời gian như dữ liệu, có thể được điều chỉnh, thao tác để phục vụ cho nhu cầu
tinh thần hoặc xã hội.
Trong phạm vi khảo sát,
nghiên cứu đã nhận diện 12 ẩn dụ ý niệm thời gian với tổng cộng 12 miền nguồn,
89 ánh xạ, phản ánh sự phong phú và đa dạng trong cách con người tri nhận thời
gian. Trong số này, THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI chiếm nhiều nhất với 19 ánh xạ, tiếp
đến là THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ và THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN (mỗi loại 11 ánh xạ),
cho thấy xu hướng nhân cách hoá và vật thể hoá thời gian trong thơ ca. Các ẩn
dụ khác như THỜI GIAN LÀ CHẤT LỎNG / DÒNG CHẢY, THỰC VẬT, TÀI SẢN, THỰC PHẨM,
ĐỘNG VẬT, LỬA cũng xuất hiện với số lượng đáng kể, minh hoạ cách thức thời gian
được hình dung qua các đặc tính vật chất, sinh học và xã hội. Một số ánh xạ ít
gặp hơn như CHẤT BẨN, CHẤT ĐỘC, CON SỐ nhấn mạnh những cách nhận thức đặc thù,
hiếm gặp nhưng giàu tính biểu tượng. Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy thời
gian trong thơ Việt Nam đương đại được diễn đạt qua nhiều miền nguồn đa dạng,
vừa gần gũi vừa giàu tính ẩn dụ, phản ánh khả năng trừu tượng hoá và nhân cách
hoá của ngôn ngữ.
3.3.
Ý nghĩa của ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ ca Việt Nam đương đại
3.3.1.
Biểu đạt nhận thức phong phú, sinh động về thời gian
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học
tri nhận, sự hiện diện đồng thời 12 loại ẩn dụ ý niệm với 89 ánh xạ về thời
gian phản ánh rằng thời gian trong thơ Việt Nam đương đại không bị ràng buộc
vào một hình ảnh duy nhất mà là một hiện tượng được cảm nhận, tưởng tượng và
tái tạo qua nhiều kênh giác quan, nhận thức và trải nghiệm văn hoá (thời gian
là một trường trải nghiệm đa chiều); thời gian không chỉ là dấu hiệu của tính
phong phú biểu tượng, mà còn cho thấy một kiến trúc khái niệm đa tâm
(polycentric) của thời gian trong thơ Việt Nam đương đại. Kiến trúc này cho
phép thời gian được kiến tạo như tác nhân, môi trường, chất liệu, tài sản, sinh
thể và đồ vật, qua đó mở rộng biên độ miêu tả và nhận thức theo nhiều chiều
kích đồng hiện. Dưới đây là một số đánh giá cụ thể về ý nghĩa của các ẩn dụ ý
niệm thời gian đối với việc biểu đạt đặc trưng nhận thức và thi pháp thơ Việt
Nam đương đại:
Khử
trừu tượng bằng mạng lưới hình ảnh thân thể - đời sống:
Phần lớn miền nguồn đều có
nền tảng trải nghiệm thân thể và sinh hoạt hằng ngày (con người, thực vật, động
vật, thực phẩm, lửa, dòng chảy). Nhờ vậy, thời gian được “kéo xuống” khỏi tầng
trừu tượng thuần lí để trở thành một thực thể giàu tính cảm giác và hành vi
(biết chào, đi, ngủ, khóc, vuốt ve, sinh nở…). Đây là cơ chế mô phỏng nhập thân
(embodied simulation): người đọc hiểu thời gian bằng cách kích hoạt những kịch
bản sinh tồn quen thuộc, từ đó giảm thời gian tư duy khi xử lí một miền đích
vốn khó nắm bắt.
Tổ
chức tri nhận theo các sơ đồ hình ảnh nền tảng:
Hệ thống ẩn dụ cho thấy sự
nổi trội của các lược đồ hình ảnh: VẬT CHỨA/KHÔNG GIAN (thời gian là không
gian, vật chứa; 11 ánh xạ): tạo điều kiện cho việc định vị, phân đoạn, “đi
vào/ra”, xác lập ranh giới. ĐIỂM XUẤT PHÁT - LỘ TRÌNH - ĐÍCH/CHUYỂN ĐỘNG (thời
gian là dòng chảy, chuyến tàu/bánh xe; 15 ánh xạ liên quan): mã hoá diễn tiến,
nhịp độ, hướng đi. CHẤT THỂ/THỂ KHỐI (thời gian là chất lỏng, lửa, chất
bẩn/độc): biểu đạt cường độ, độ trong/đục, năng lượng, tác hại. Việc “đan cài”
các sơ đồ này giúp thơ đương đại vừa phân đoạn (segment) vừa liên tục hoá
(continuize) thời gian, tương ứng với những thao tác thể loại như vắt dòng, ngắt
nhịp tự do, xếp chồng hình ảnh.
Nhân
hoá - định vị quyền lực của thời gian
Ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ
CON NGƯỜI có nhiều ánh xạ nhất (19/89 ≈ 21,3%), tạo một cực quy chiếu nhân học:
thời gian không còn là phông nền mà là đối tác/đối thủ. Quan trọng hơn, thời
gian trong nhiều câu thơ có chủ ý và quyền lực (quyết định số phận, rủ rê, vuốt
ve, sinh nở), song cũng có lúc bị thao tác (bị cắt, vá, mặc, uống). Sự chuyển
đổi vị thế tác thể - bị thể này là đặc trưng nổi bật của thơ Việt Nam đương
đại: cái tôi trữ tình vừa chịu sự chi phối của thời gian, vừa tìm cách tái
thiết lập quyền năng trên thời gian bằng các thao tác tạo tác nghệ thuật (cắt,
khâu, đơm, sửa…).
Đồng
hiện các mô hình thời tính: tuyến tính, chu kì, cơ giới, thương phẩm
Chu kì - sinh trưởng (thực
vật, mùa vụ: 10 ánh xạ) cho phép biểu đạt hồi quy, tàn - sinh, “lịch mùa” kí
ức; đây là dòng mạch gắn với văn hoá nông nghiệp và mĩ cảm thiên nhiên (sen,
hạ, thu…). Tuyến tính - cơ giới (chuyến tàu, bánh xe, máy móc) chuyển thời gian
thành tiến trình có đích, có nhịp, gắn với cảm thức hiện đại hoá và đô thị.
Thương phẩm - tài sản (tiêu nhẵn ngày chủ nhật, “cắm” tuổi thanh xuân, đong lại buổi chiều) đưa
vào trường nghĩa định lượng, chi tiêu, trao đổi, phản ảnh đời sống kinh tế-xã
hội hậu Đổi mới, nơi thời gian được “định giá”, có thể mua, tiết kiệm, đầu tư,…
Dòng chảy - chất lỏng (….) cung cấp mô hình liên tục, trôi tuột, khó nắm - hữu
hiệu để ghi bắt những trạng thái “bất an thời tính” (temporal anxiety) đặc
trưng của nhịp sống gấp gáp.
Liên
văn hoá - liên thời đại: kết tinh truyền thống và hiện đại
Bên cạnh các motif truyền
thống (nhân cách hoá thiên nhiên, mùa vụ), dữ liệu cho thấy rõ dịch chuyển hiện
đại: thời gian thành tài sản và máy móc; thành thực phẩm/đồ uống của sinh hoạt
đô thị; thậm chí mang độc tính hay bẩn (ẩn dụ phê phán). Sự song hành này tạo
một khả thể đồng trú giữa mĩ học làng quê (sen, mùa) và mĩ học đô thị (giá trị
- tiêu dùng - cải biến), làm nên bản sắc “lưỡng cư” của thơ Việt Nam đương đại.
Hiệu
ứng nhận thức - cảm xúc: “đặt tay sờ được thời gian”
Việc phân bổ ánh xạ theo
các cụm lớn - CON NGƯỜI (21,3%), VẬT THỂ và KHÔNG GIAN (mỗi nhóm 12,4%), THỰC
VẬT (11,2%), DÒNG CHẢY và TÀI SẢN (mỗi nhóm 10,1%) chỉ ra các “bụi trung tâm”
nơi thời gian trở nên hữu hình, hữu dụng hoặc hữu quan hệ. Điều này tạo ba hiệu
ứng: (1) Định vị - người đọc xác định vị trí/biên giới thời gian; (2) Tương
tác: người đọc “đối thoại” với thời gian như một nhân vật; (3) Thao tác: người
đọc hình dung có thể chạm - cắt - vá - rót - uống thời gian, từ đó tăng cường cảm
giác kiểm soát giữa bối cảnh biến động.
Sự đa dạng 12 loại ẩn dụ,
12 miền nguồn và 89 ánh xạ không chỉ mở rộng năng lực miêu tả, mà còn tái cấu
trúc cách tư duy về thời gian trong thơ Việt Nam đương đại: thời gian vừa có
hình - có vía, vừa có địa hình - địa vật, vừa có giá trị trao đổi, lại vừa có
vòng đời sinh - tàn. Hệ thống ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương
đại kiến tạo một cảm thức thời tính lai ghép: nhiều nhịp, nhiều tầng, nhiều
vai, trùng khớp với chính trải nghiệm xã hội - văn hoá Việt Nam ngày nay. Đây
là đóng góp cốt lõi của sự phong phú ẩn dụ: biến “thời gian” từ một đại lượng
đo đếm thành một địa hạt sống, nơi ngôn ngữ, kí ức và chủ thể cùng tham dự,
tranh biện và sáng tạo.
3.3.2.
Biểu đạt đặc trưng tư duy thơ Việt Nam đương đại
Lakoff và Johnson
(1980/2022) dùng từ LÀ trong các diễn đạt ẩn dụ (ví dụ như THỜI GIAN LÀ TÀI
SẢN) và theo họ, LÀ “cần được xem như một cách viết tắt cho tập hợp một số kinh
nghiệm mà ẩn dụ dựa trên đó và thông qua đó chúng ta nhận thức nó” [6, tr.40].
Nghĩa là, ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích phải có mối tương liên, cơ sở,
hay nói cách khác là có mạch lạc văn hoá. Chẳng hạn, trong ẩn dụ THỜI GIAN LÀ
DÒNG CHẢY, người ta ánh xạ từ dòng nước (miền nguồn) sang thời gian (miền đích)
vì cả hai đều chuyển động một chiều, không thể quay lại; hay trong ẩn dụ ý niệm
THỜI GIAN LÀ TÀI SẢN, ánh xạ dựa trên việc thời gian và tiền bạc đều có thể
bị mất, dành dụm, tiêu phí,…, tức là một phép chiếu
khái niệm dựa trên tính khả tính. Nhưng trong rất nhiều ánh xạ được miêu tả ở
mục 3.2 có những ánh xạ rất mờ, liên tưởng phi logic như ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN
VÀ VẬT THỂ trong ngữ liệu Em
cắt tháng chín ra khâu/ thành những túi nhỏ đựng sầu mùa thu (Trần
Lê Khánh). Trong kinh nghiệm văn hoá, “tháng chín” (thời gian) không phải là
vật thể có thể “cắt” hay “khâu” như vải. Hành động “cắt” và “khâu” thuộc về
miền nguồn vật lí (may vá), nhưng được ánh xạ sang miền đích thời gian và cảm
xúc một cách không logic. Không có cơ sở kinh nghiệm trực tiếp để hiểu “tháng
chín” được biến thành “túi nhỏ” chứa “sầu”. Sự đứt gãy này tạo hiệu ứng siêu
thực, gợi hình ảnh một người phụ nữ (em) thao túng thời gian như một chất liệu,
biến nỗi buồn trừu tượng thành vật thể hữu hình (túi). Ẩn dụ này làm mờ ranh
giới giữa thời gian và vật chất, cảm xúc và hành động. Nó khơi gợi cảm giác uể
oải, cô đơn của mùa thu, nơi “sầu” được “đóng gói” như cách con người cố gắng
kiểm soát hoặc lưu giữ cảm xúc. Sự lạ hoá này kích thích trí tưởng tượng, khiến
người đọc hình dung một thế giới siêu thực nơi thời gian có thể cầm nắm, cắt
may. Thêm một ví dụ khác: Hạ
hấp hối, về đen mặt đời (Nguyễn Phúc Lộc Thành). Miền nguồn
CON NGƯỜI (hấp hối) kết hợp với hành động tác động lên diện mạo thế giới (đen
mặt đời). Rõ ràng, không có cầu nối tri nhận giữa cái chết của mùa hạ (THỜI
GIAN) và màu sắc của “mặt đời” trong kinh nghiệm thông thường. Đây là ánh xạ
“chập chờn”, đặc trưng của tư duy siêu thực: các miền tri nhận xa lạ được ghép
lại chỉ bằng cảm giác trực quan hoặc ấn tượng cảm xúc.
Như vậy, tính “mờ” trong
ánh xạ ẩn dụ thời gian ở thơ Việt Nam đương đại không phải hệ quả của sự thiếu
logic mà là lựa chọn nghệ thuật. Tính phân mảnh làm ánh xạ không được triển
khai trọn vẹn, tạo cảm giác đứt đoạn, phù hợp với thi pháp hậu hiện đại vốn phá
vỡ sự liền mạch truyền thống để mở ra nhiều khả năng diễn giải. Khía cạnh hiện
sinh khiến ánh xạ mờ trở thành không gian của những cảm xúc mơ hồ, bất an, vô
định, gợi hành trình tìm kiếm ý nghĩa giữa những mảnh rời. Cảm hứng siêu thực
kết hợp các miền tri nhận xa lạ mà không cần cầu nối lí giải rõ ràng, tạo nên
một thực tại “mơ” vận hành theo logic hình ảnh và vô thức, thay cho logic
thường nhật.
Ở bình diện tư duy thơ,
cách triển khai (các ánh xạ) này biến thời gian thành “không gian liên tưởng tự
do”, thoát khỏi hệ quy chiếu văn hoá cố định và liên kết với những miền nguồn
bất ngờ như CHẤT BẨN, THỰC PHẨM hay CON SỐ. Nó buộc người đọc tham gia chủ
động, tự “điền vào chỗ trống” bằng trải nghiệm cá nhân hoặc chấp nhận sự phi lí
như một phần ý nghĩa. Thơ vì thế trở thành diễn đàn tái cấu trúc mạch lạc văn
hoá: thay vì phản ánh một thế giới ổn định, nó thử nghiệm những mạch lạc mới,
đôi khi chỉ tồn tại trong một hình ảnh hoặc bài thơ, qua đó mở rộng biên giới
của ngôn ngữ và cảm thụ.
4.
Kết luận
Nghiên cứu cho thấy hệ
thống ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương đại vừa mang tính phổ
quát, vừa thể hiện sự sáng tạo đặc thù của bối cảnh văn hoá và trải nghiệm cá
nhân. Các mô hình quen thuộc như THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI, THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ,
THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN… được
triển khai linh hoạt, kết hợp với những miền nguồn bất ngờ, thậm chí phi lí.
Nổi bật là xu hướng phá vỡ tuyến tính, tạo “độ mờ” qua tính phân mảnh, cảm thức
hiện sinh và yếu tố siêu thực, qua đó mở rộng khả năng diễn giải và kích hoạt
vai trò chủ động của người đọc.
Ẩn dụ ý niệm thời gian
trong thơ Việt Nam đương đại cho thấy sự tiếp biến tinh vi giữa lí thuyết tri
nhận và mĩ học thơ. Ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương đại không
chỉ phản ánh cách con người tri nhận và tổ chức kinh nghiệm về thời gian, mà
còn trở thành công cụ kiến tạo thế giới nghệ thuật. Thời gian được giải phóng
khỏi các hệ quy chiếu cố định, trở thành trường liên tưởng tự do, gắn với nhiều
tầng nghĩa và giá trị biểu đạt mới. Đây cũng là một trong những yếu tố quan
trọng góp phần định hình bản sắc sáng tạo, đồng thời mở ra hướng tiếp cận liên
văn hoá và liên thời kì cho nghiên cứu thơ ca Việt Nam.
NGUỒN
NGỮ LIỆU
- Mai Văn Phấn. Bầu trời không mái che.
NXB Hội Nhà văn. 2010.
- Đỗ Doãn Phương. hoan ca. NXB
Hội Nhà văn. 2011.
- Đinh Thị Như Thúy. Ngày linh hương nở sáng.
NXB Hội Nhà văn. 2011.
- Phạm Đương. Giờ thứ 25.
NXB Hội Nhà văn. 2012.
- Trần Hùng. Vườn khuya.
NXB Hội Nhà văn. 2015.
- Trần Quang Đạo. Bay trong mơ.
NXB Hội Nhà văn. 2019.
- Trần Quang Quý. Nguồn. NXB Hội
Nhà văn. 2019.
- Trần Kim Hoa. bên trời. NXB
Hội Nhà văn. 2020.
- Nguyễn Bảo Chân. Bóng của ý nghĩ.
NXB Thế giới. 2022.
10. Trần Lê Khánh. ngàn bài thơ khác. NXB Hội Nhà
văn. 2022.
11. Nguyễn Phúc Lộc
Thành. Đồng sen tàn. NXB
Hội Nhà văn. 2023.
12. Đào Quốc Minh. Phục sinh. NXB Hội Nhà văn. 2024.
13. Nguyễn Tiến
Thanh. Viễn ca 2024.
14. Trần Lê Khánh. đồng. NXB Văn học. 2024.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Tiếng
Việt
1. Trần Thị Lan Anh. Ẩn dụ ý niệm “thời gian là con người” trong
thơ Lưu Quang Vũ. Tạp chí Khoa học (Khoa học xã hội). Số 15
(5/2019). 2019.
2. Collier G. Nghệ thuật và tâm thức sáng tạo (Trịnh
Lữ dịch). NXB Dân trí. 2019.
3. Nguyễn Hoà. Sự tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng
Việt. Tạp chí Ngôn ngữ. Số 7. 2007.
4. Bùi Khương Bích
Hoàn. Từ thời gian tuyệt đối đến thời
gian của ngôn ngữ. Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống. Số 8. 2008.
5. Lakoff, G., Johnson,
M. Chúng ta sống bằng ẩn dụ (Tạ
Thành Tấn dịch). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 1980/2022.
6. Phạm Thị Hương
Quỳnh. Ẩn dụ ý niệm trong thơ Xuân
Quỳnh. NXB Khoa học xã hội. 2017.
7. Đặng Thị Hảo Tâm. Ẩn dụ ý niệm cuộc đời trong thơ miên di nhìn
từ góc độ thi pháp học tri nhận. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2024.
8. Lý Toàn Thắng. Ngôn ngữ học tri nhận, từ lí thuyết đại cương
đến thực tiễn tiếng Việt. NXB Phương Đông. 2009.
9. Lý Toàn Thắng. Một số vấn đề lí luận ngôn ngữ học và tiếng
Việt. NXB Khoa học xã hội. 2012.
10. Đinh Lam
Trường. Ẩn dụ ý niệm về con người trong
thơ Trần Đăng Khoa. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. tập 60. Số 1C
(2024). 2024.
Tiếng
nước ngoài
11. Kӧvecsec, Z. Metaphor A Practical Introduction.
Oxford University Press. Printed in the United States of America. 2002.
12. Semino, E., Culpeper,
J. (eds.). Cognitive Stylistics: Language
and Cognition in Text Analysis. Amsterdam/ Philadelphia: John
Benjamin. 2002.
(Nguồn: Tạp chí Ngôn
ngữ tr. 51-58, số 9, 2025)