Tiếng nước reo
Mai Văn Phấn
Gần
sáng, Đoàn tỉnh giấc. Anh nằm nghe tiếng nước reo đâu đó. Xuống bếp, thấy chiếc
bếp từ vẫn đặt trên bàn đá. Chỗ cái bếp kiềng ngày trước giờ kê bình nước lọc. Vài
cái nồi nhôm úp trên giá. Tiếng nước sôi vẫn reo. Đoàn ngước nhìn nóc tủ. Chiếc
ấm đất của mẹ nằm cạnh cái rổ tre và lọ gia vị.
Anh
kéo ghế, đứng lên lấy chiếc ấm xuống. Tiếng nước thôi reo. Đoàn cầm chiếc ấm,
thấy nó nhẹ hơn anh tưởng. Anh mở nắp. Bên trong vẫn khô, dưới đáy ấm có lớp
bụi.
Có
tiếng cửa mở. Loan đứng ở bậc cửa bếp. Hai chị em về từ chiều hôm trước, định
dọn nốt căn nhà rồi mới tính chuyện bán. Loan nhìn chiếc ấm trong tay Đoàn,
hỏi: “Em cũng nghe thấy tiếng
nước reo à?” Đoàn gật đầu. Chị cầm lấy chiếc ấm, lau lớp bụi dưới
đáy bằng vạt áo rồi đặt lên nóc tủ, bảo: “Cứ
để nó trên đó.” Đoàn nhìn chị. Loan kéo chiếc ghế ra ngồi rồi nói: “Mẹ dặn thế em ạ.” Đoàn
không nhớ mẹ đã dặn từ bao giờ. Anh lại ngước nhìn chiếc ấm.
Sáng
hôm sau, Loan dậy sớm. Nhà bên đang làm cá. Tiếng dao thớt lẫn tiếng người. Mùi
cá biển với khói bếp bay vào trong sân. Đoàn ra hiên. Loan đang nhặt rau trên
chiếc chõng tre. Trên bàn có mấy củ gừng. Chị hỏi: “Chiếc ấm vẫn trên nóc tủ chứ em?” “Vâng.” “Đêm qua em có nghe thấy gì không?”
“Có, chị ạ.” Anh
ngồi xuống chiếc ghế thấp. “Trước
đây em có bao giờ nghe thấy không?” “Có vài lần.” “Khi nào?” “Trước
khi mẹ mất khá lâu.” Đoàn nhìn chị nhặt những lá sâu, bỏ sang bên.
Chị bảo: “Mẹ hay đun nước bằng
chiếc ấm ấy đấy.” “Nước
gừng à?” “Mẹ đun
cả nước uống hàng ngày.”
Đoàn
nhớ một buổi sáng mẹ ngồi bên bếp, thái gừng thành từng lát bỏ vào ấm. Nước
nóng rót ra chiếc bát men trắng, mẹ đặt xuống nền nhà trước mặt anh. Đoàn nói: “Mẹ hay đun nước gừng cho em đấy chị.”
Chị nhìn Đoàn rồi bảo: “Có khi em nhớ lẫn với lúc mẹ lấy nước nóng
trong cái phích Rạng Đông để pha.”
“Em nhớ chính xác mà.”
Loan đứng lên đi vào bếp. Lát sau chị mang ra hai chiếc bát men, đặt lên bàn và
nói: “Mẹ giữ hai cái bát này.”
Đoàn
cầm một chiếc bát lên. Miệng bát đã mẻ một miếng. Mẹ vẫn bảo cái bát còn lành
thì đừng bỏ đi. Anh nhớ lần mình bị sốt, mẹ lấy khăn nhúng nước ấm, vắt khô rồi
đặt lên trán. Chiếc ấm đất nằm trên bếp, nước sôi lục bục. Mùi gừng từ bếp bay
lên tận nhà trên. Đoàn nói: “Em
luôn nhớ mùi này.”
Loan
cúi đầu. Đoàn xuống bếp lấy chiếc ấm. Anh lau qua thân ấm. Chỗ men bong ra để
lộ màu đất nâu sẫm. Quai ấm quấn một đoạn dây thép đã hoen. Đoàn hỏi: “Cái này ai buộc lại chị nhỉ?”
Loan đang thái rau ngoài hiên, dừng tay: “Mẹ
đấy.” Đoàn xoay chiếc ấm. Dưới đáy có một vết cháy đen chừng hai
ngón tay. “Nó bị cháy này
chị.” “Ừ.”
“Sao mẹ không bỏ đi nhỉ?”
Chị đặt con dao xuống rồi nói: “Mẹ bảo cháy đáy thôi, chứ nước có rò đâu.” Đoàn xoay chiếc ấm
thêm một vòng, rồi đặt xuống mặt bàn.
Hai
chị em tiếp tục dọn nhà. Đồ đạc chia thành từng đống. Đã có người hỏi mua đất.
Loan muốn bán ngôi nhà này để lấy tiền sửa lại căn trên phố. Đoàn mở từng ngăn
tủ, xem lại đồ đạc của mẹ.
Khi
dọn đến gian bếp, Loan cầm chiếc ấm lên. “Cái
ấm này mình giữ lại em nhé.” “Vâng,
chắc chắn rồi chị.” Anh nhìn vết nứt chạy dọc thân chiếc ấm đất. “Vết nứt này có từ bao giờ vậy chị?” “Lâu
rồi. Mẹ lấy mật mía trộn với tro bếp vít lại đấy.” Đoàn đưa ngón tay lần
theo vết nứt.
Trời
đổ mưa. Hai chị em đóng bớt cửa sổ, rồi vào gian giữa. Mưa dội xuống mái ngói. Lát
sau, nước ngoài ao dâng lên, tràn vào sân. Mấy con cá rô theo dòng nước, lách
mình quanh gốc chanh.
Đoàn
xuống bếp lấy nước lọc. Chiếc ấm đất vẫn trên nóc tủ. Tiếng nước sôi lại vọng
ra. Đoàn áp tay vào thành ấm. Nóng ran. Loan từ nhà trên đi xuống. “Chuyện gì vậy em?” Đoàn đưa
chiếc ấm cho chị. “Chị xem
đi.” Loan vừa đặt tay lên thành ấm đã rút ngay ra. “Nóng em ạ.” Bếp củi lâu
không ai nhóm. Đoàn mở nắp ấm. Bên trong vẫn khô. Hai chị em nhìn nhau.
Đoàn
không ngủ được. Anh nhớ mẹ ngồi bên bếp. Có hôm mẹ nằm ở gian giữa. Chiếc ấm
khi ở trên bếp kiềng, khi đặt dưới nền nhà. Những buổi sáng mẹ gọi anh dậy,
tiếng dép mẹ ngoài hiên cứ lẫn vào nhau.
Gần
nửa đêm, tiếng nước lại reo. Lần này, âm thanh không từ gian bếp mà vọng ra từ
phía buồng của mẹ. Đoàn đứng ngoài một lúc rồi đẩy cửa bước vào. Chiếc giường
kê sát tường. Chiếc tủ gỗ thấp đặt cạnh cửa sổ. Đoàn đứng bên giường mẹ rồi đi
ra.
Sáng
hôm sau, Loan mở cửa buồng mẹ để lấy quần áo. Chiếc áo nâu vẫn treo sau cửa. Chiếc
lược sừng và chiếc khăn cũ gấp ngay ngắn trên đầu giường. Dưới chân giường là
đôi dép mẹ vẫn đi trong nhà. Đoàn nói vọng vào. “Mẹ vẫn để đôi dép này ở đây à chị?” “Ừ.” “Sao không bỏ đi?” Loan cúi
xuống gấp lại chiếc khăn.
Loan
nhắc đến Thím Lựu ở cuối xóm. Thím từng sang chăm mẹ mấy lần trong những tháng
cuối cùng. Đoàn gọi điện. Thím Lựu hỏi hai đứa đã về chưa. Rồi thím nói ngày
trước mẹ cháu hay nhắc hai chị em. Đoàn hỏi: “Thím
có nghe mẹ cháu nói gì về chiếc ấm đất không?” “Chiếc ấm ấy à?” “Mẹ cháu có hay dùng không thím?”
“Có. Bà ấy vẫn dùng. Thi
thoảng lại thấy đem ra hãm nước.” “Mẹ cháu có hay nghe thấy tiếng nước sôi không?”
Bà Lựu ngập ngừng rồi nói: “Thím
có nghe.” Trước khi tắt máy, bà còn nói: “Mấy hôm cuối mẹ cháu yếu lắm.” Đoàn đặt điện thoại xuống, ngồi rất lâu bên bàn.
Loan
tìm thấy một cuốn sổ nhỏ trong ngăn tủ bếp. Chị mở từng trang. Đó là cuốn sổ mẹ
dùng để ghi việc trong nhà. Tiền điện, tiền gạo, ngày giỗ, tiền thuốc, những
thứ cần mua thêm. Có một trang mẹ ghi: “Đoàn
về.” Đoàn hỏi: “Mẹ ghi chữ này lúc nào vậy chị?”
“Chắc lúc em gọi bảo về đấy.” Lần ấy Đoàn chỉ về được một buổi tối, sớm hôm sau đã vội
đi. Khi ấy mẹ đã gầy yếu lắm nhưng chống gậy ra tận cổng tiễn anh.
Đoàn
lật trang sau. Có dòng chữ: “Đun
thêm nước.” Đoàn lật tiếp. Những
trang tiếp theo không còn dòng nào liên quan. Anh đặt cuốn sổ vào ngăn tủ bếp.
Ngoài
sân có tiếng gọi nhau đi kéo lưới. Một chiếc xe chở cá chạy qua. Gió biển tràn
vào gian bếp. Đoàn nhớ buổi tối. Mẹ ngồi ở mép giường. Anh đứng cạnh cửa. Mẹ
hỏi: “Tuần tới con có về được
không?” Lúc ấy Đoàn đang nhìn điện thoại. “Tuần tới con có việc rồi mẹ ạ.”
Mấy
hôm sau, mẹ vào viện. Đến trưa, chị Loan gọi báo mẹ trở nặng. Đoàn bắt chuyến
xe sớm nhất nhưng khi về đến nơi, mẹ đã mất. Anh nhớ mình đứng khóc ngoài hành
lang bệnh viện. Chị Loan nói gì lúc ấy, anh không nhớ.
Tối
hôm ấy, Thím Lựu sang cho túi gừng, bảo: “Mẹ
cháu ngày trước hay mua gừng chỗ thím.” Đoàn nhận túi gừng rồi lại
hỏi: “Mẹ cháu có hay dùng
chiếc ấm đất không thím?” Bà Lựu nhìn Đoàn. “Chiếc ấm cũ ấy à?” “Vâng.” “Có.”
Loan
vẫn lúi húi xếp lại mấy thứ. Bà Lựu ngồi xuống chiếc ghế ngoài hiên, kể: “Hồi cháu còn nhỏ, cứ trở trời là ho. Mẹ
cháu đun gừng rồi để nguội bớt mới cho uống.” Đoàn hỏi: “Cháu có bao giờ làm rơi chiếc ấm ấy
không thím?” Bà Lựu cười. “Thím
nhớ có lần mẹ cháu mắng hai đứa vì làm đổ nước gì đó.” Bà đứng dậy
ra về.
Đoàn
cầm túi gừng vào bếp, đặt cạnh chiếc ấm. Tối hôm ấy, anh lấy cuốn sổ ra nhìn
lại dòng chữ “Đoàn về”. Không muốn
lật sang trang sau.
Anh
áp tay vào thân ấm, rồi nhấc nó xuống, đặt cạnh cuốn sổ. Đoàn đứng dậy. Đi qua
gian giữa, anh nghe tiếng mẹ gọi “Đoàn
à.” Anh quay lại. Gian nhà không có ai.
Loan
từ ngoài sân đi vào. Đoàn hỏi: “Chị
vừa gọi em à?” “Không.”
Đoàn nhìn chị rồi nói: “Em vừa
nghe như tiếng mẹ.” Hai chị em đứng giữa nhà.
Sáng
hôm sau, Loan và Đoàn tiếp tục dọn dẹp. Chiếc ấm đất vẫn nằm cạnh rổ tre. Đoàn
cầm lên, lau lớp muội bám trên thành ấm. Đường nứt trên ấm như dài hơn hôm
trước.
Đoàn
nhớ cái bếp thấp, nền đất ngày ấy chưa lát gạch. Anh hỏi Loan: “Chị nhớ gì nhất trước khi mẹ mất?”
“Mẹ thường gọi em.”
“Rồi sao?” Anh cúi
nhìn xuống nền nhà. Nhớ lần làm rơi chiếc ấm. Nước nóng đổ ra. Loan khóc. Đoàn
đứng nép vào góc chạn.
Người
môi giới gọi điện hỏi chị em đã quyết định bán nhà chưa. Đoàn cầm điện thoại. “Nhà tôi chưa bán vội.” Loan
đứng gần cửa nghe thấy, hỏi: “Em
đổi ý à?” Đoàn nhìn xuống bếp. “Để
thêm một thời gian nữa chị ạ.” Loan không hỏi thêm.
Hai
chị em thu dọn nốt những thứ còn lại. Loan gói quần áo của mẹ vào chiếc túi
lớn. Những thứ mang đi được đặt sang một bên. Đến lúc khép cửa buồng mẹ, Đoàn
quay lại nhìn đôi dép dưới chân giường. Một chiếc quay mũi ra cửa, chiếc quay
vào trong.
Đêm
đó, hai chị em còn ngồi ở gian giữa. Căn nhà đã dọn gần xong. Ngoài sân, gió
lùa qua hàng cau. Những tàu cau cọ vào nhau xào xạc. Đến khuya, tiếng nước lại
reo. Chị em cùng nghe. Âm thanh vọng từ căn buồng của mẹ.
Đoàn
ngồi dậy: “Chị ơi, nghe thấy
không?” Loan ngồi bên mép giường, nhìn về phía cửa buồng. Tiếng
nước càng rõ hơn. Đoàn đứng dậy. Loan nắm tay Đoàn. Hai chị em ngồi yên.
Sáng
hôm sau, Loan đặt hai chiếc bát men lên bàn. Đoàn lấy mấy lát gừng cho vào
chiếc ấm đất, rồi đổ nước. Không ai nhóm bếp. Một lúc sau, trong ấm có tiếng
động nhẹ. Rồi như tiếng nước reo. Anh rót ra bát. Hơi gừng bốc lên. Cả hai cùng
uống. Loan nhíu mày: “Hơi cay
đấy em.” Đoàn cười: “Ngày
trước mẹ cũng cho em uống thế.”
Hai chị em ngồi đó một lúc. Loan đứng dậy, đặt chiếc
ấm lên nóc tủ rồi ra vườn. Đoàn đi theo chị. Ra đến cửa, anh quay lại nhìn
chiếc ấm đất. Một giọt nước còn đọng trên vòi. Anh đưa tay rồi rút lại. Tiếng
nước reo sau lưng hai chị em.

Tranh “Ấm đất và chén” của Lê Vượng