Vệt son trên bức tường
Mai Văn Phấn
Phòng tĩnh tâm nằm cuối
khu vườn sau Dòng Mến Thánh Giá, tách khỏi dãy nhà chính bằng lối đi nhỏ phủ
rêu và hai hàng trúc. Đó là căn phòng dành cho nữ tu đau bệnh hoặc cần tĩnh tâm. Tường
dày, cửa gỗ, chỉ một ô cửa sổ cao. Bên trong có chiếc giường đơn, bộ bàn ghế gỗ
và Cây Thánh Giá treo trên tường. Sơ bề trên Têrêsa dẫn Hạnh vào. Trước khi
khép cửa, bà chậm rãi: “Nếu em thực lòng muốn ở lại, hãy để Chúa nghe tiếng trả
lời của em.”
Ngày đầu trôi chậm chạp.
Hạnh từ giường đi ra cửa, rồi quay lại. Tiếng gió lùa qua ô cửa cao càng làm
căn phòng thêm trống vắng. Chiều xuống, cha giải tội già đến. Ông ngồi sau tấm
màn gỗ trong tòa giải tội. Sau lời kinh mở đầu nhân danh Chúa Ba Ngôi, ông bảo
cô xưng tội. Hạnh ngượng ngùng giây lát, rồi thưa mình có những ý nghĩ bất xứng
với đời sống dòng. Cha nói cô xét mình và xưng tội gì khác nữa không. Hạnh đáp không,
chỉ những xao động trong lòng. Ông nhắc cô đọc kinh ăn năn tội. Khi cô đọc
xong, cha ban ơn tha tội và nói hãy trung tín với ơn gọi, và siêng năng cầu
nguyện khi yếu đuối.
Đêm xuống sâu. Gió lay cánh cửa từng hồi. Trên
tường, bóng Cây Thánh Giá chao lắc theo ánh đèn ngoài sân hắt vào. Đêm sau,
trời nổi giông. Mưa quất mạnh vào ô cửa sổ. Trong lúc chập chờn, Hạnh mơ thấy
cha mình trở về sau trận bão năm xưa, người ướt sũng, vướng rong rêu, đứng nhìn
cô hồi lâu rồi hỏi: “Con còn trốn ai mãi thế?” Hạnh giật mình tỉnh dậy, mồ hôi
ướt áo. Ngoài kia chuông nhà nguyện điểm hai giờ sáng. Cô ngồi dậy, nhớ lại
ngày xin đi tu, cô yêu Chúa thật lòng, và cũng tìm một chốn bình yên để giữ
mình. Ngày khấn dòng, cô không khóc, chỉ thấy lần đầu tiên đời mình ngủ yên qua
đêm.
Một sáng, Sơ Têrêsa vào
thăm Hạnh với túi hoa quả. Đặt tay lên trán cô, bà thoáng lo khi thấy cô xanh
xao. Nhìn đôi bàn tay nhăn nheo ấy, Hạnh chợt nhận ra đó cũng từng là đôi tay
của một phụ nữ trẻ, rồi khẽ hỏi ngày trước Sơ bề trên có bao giờ rơi vào hoàn
cảnh như mình không. Sơ Têrêsa lặng lẽ nhìn ra ô cửa có vệt nắng mỏng, chậm
rãi: “Ai cũng có những đoạn đường phải tự mình bước qua.” Bà quay lại nhìn
Hạnh, giọng trầm xuống: “Có những lúc yếu lòng, nhưng chính khi ấy, mình lại
gần Chúa hơn.” Hạnh gặng hỏi vì sao Bề trên vẫn nghiêm khắc với mình như vậy.
Bà nắm chặt tay Hạnh, giọng chậm lại: “Chị sợ em đi xa hơn, không kịp quay lại.”
Lúc đó, một Sơ trẻ gõ cửa
báo tin con gái anh Đức Minh vừa trở nặng, đã chuyển cấp cứu. Hạnh bủn rủn, xin
được đi thăm. Sơ Têrêsa lặng đi, nhìn Hạnh hồi lâu. “Chị biết em đang lo.” Hạnh
đến gần Sơ bề trên: “Cho em đi thăm cháu chị nhé!” Bà khẽ lắc đầu. “Nếu em đi
lúc này, chị e rằng em không còn giữ được mình nữa.” Hạnh cắn chặt môi. Sơ
Têrêsa trầm xuống: “Chính vì thương em nên chị không yên tâm để em đi.” Hạnh
đứng yên, rồi buông tay. Ra đến cửa, Sơ Têrêsa quay lại đặt thỏi son lên bàn.
Đêm ấy, Hạnh không ngủ.
Cây Thánh Giá chập chờn trong bóng tối. Ánh mắt cô dừng lại ở thỏi son trên
bàn. Nó nằm đó, như chờ đợi. Cô cầm lên, lớp vỏ kim loại lạnh buốt thấm vào đầu
ngón tay. Trong cơn mê loạn, cô vặn son, rồi quệt mạnh lên bức tường dưới chân
Cây Thánh Giá. Màu đỏ bỗng rực lên. Hạnh lùi lại, thở gấp, tay run rẩy...
***
Mười ba năm trước. Sơ
Maria Hạnh đi dọc hành lang, ôm chồng khăn vừa lấy từ máy giặt. Gió lùa qua ô
cửa hé, vạt áo xám áp vào người, cô dừng lại một thoáng rồi đi tiếp. Trong tu
viện, mọi thứ đều ngăn nắp, đúng giờ. Nhịp sống lặp lại, đều đặn.
Hạnh không phải người
vùng này. Cha cô là ngư phủ, mất trong một trận bão. Mẹ cô bệnh tim rồi suy kiệt.
Từ nhỏ ít nói, năm mười sáu tuổi cô rời quê vào dòng. Người ta từng nhớ một cô
gái vùng biển Khánh Hòa với khuôn mặt trái xoan và chiếc răng khểnh, nhưng
chính dấu nhỏ ấy, về sau cô muốn buông bỏ. Hai tháng sau khi vào dòng, Hạnh nhổ
bỏ chiếc răng khểnh. Trước hết vì chọn đời dâng hiến, sau là lý do thầm kín, cô
muốn đoạn tuyệt với một mối tình học trò. Từ đó, Hạnh sống đời thánh hiến trong
trẻo, kín đáo, mọi thứ vừa đủ để không làm xao động ơn gọi đã chọn.
Thời gian trôi đi, Hạnh
phụ trách lớp mầm non của dòng. Trẻ con yêu Hạnh vì cô vừa là mẹ vừa là bạn của
chúng. Cô kể chuyện hay, vẽ chim cá nhanh như ảo thuật. Điều không ai biết, mỗi
đêm, sau giờ xét mình, Hạnh mở ngăn tủ cuối giường, lấy ra chiếc hộp gỗ đựng
mấy tờ giấy và mẩu bút chì gọt sẵn. Cô vẽ dưới ánh đèn pin bọc trong chiếc
khăn. Khi là gương mặt đàn ông, khi cánh đồng trống trải, khi một bàn tay chới
với giữa dòng nước. Vẽ xong, cô đốt và dụi bụi tro dưới chân. Cô sợ có người
nhìn thấy một cánh cửa trong lòng mình chưa khóa.
Mùa hè năm ấy, Sơ bề trên
Têrêsa mời một họa sĩ giáo dân tên Đức Minh về vẽ lại những bức tường trong khu
trường mầm non của dòng, nơi lớp sơn cũ đã bong tróc. Bà nói đó là việc sửa
sang cần thiết, nhưng vẫn chần chừ khi xem những bức tranh khó gọi tên của Đức
Minh trên mạng, và không quên hỏi kỹ về con người anh.
Buổi chiều đầu tiên Đức Minh
đến, Hạnh đang lau bảng, nhìn qua cửa sổ thấy anh dựng xe dưới gốc cây sứ, xách
theo túi màu và chiếc thang gấp. Anh đứng khá lâu, không vào ngay, nhìn lũ trẻ
đùa vui dắt tay nhau vào lớp, rồi mới quay sang bức tường loang lổ phía sau,
mắt dừng ở những mảng đã mất hẳn hình họa, lâu sau mới bắt đầu công việc. Anh
làm việc chậm, có hôm đến sớm, hôm gần trưa mới xuất hiện, không theo giờ giấc
cố định. Lũ trẻ tò mò đứng xem, thỉnh thoảng anh vẽ phác một con chim chỉ bằng
vài nét, hoặc biến một vết nứt thành cành cây. Bọn trẻ thích thú, còn Hạnh đứng
ở cửa lớp, vừa trông trẻ vừa nhìn cách anh pha màu, đưa cọ chậm rãi lên từng
mảng tường.
Cuối buổi, khi lũ trẻ đã
về hết, Đức Minh còn đứng lại trước bức tường, sửa vài chi tiết rất nhỏ mà
người khác có thể không nhận ra. Hạnh thu dọn lớp, đi ngang qua, thấy mùi sơn
pha dầu thông thoảng nhẹ. Anh đứng cách cô vài bước, không nói gì. Ra đến sân,
anh dựng lại chiếc ghế nhựa bị đổ, rồi mới rời đi.
Từ hôm đó, Đức Minh bắt
đầu xuất hiện trong trí óc Hạnh. Khi xếp chén bát, cô nhớ bàn tay anh cầm cọ.
Khi đọc Thánh vịnh, cô lẫn một câu vì nghe văng vẳng giọng nói: “Màu trắng
không phải một màu.” Khi dỗ trẻ ngủ, cô nhìn hàng mi chúng và nghĩ đến cách anh
sẽ vẽ. Điều khiến cô sợ không phải là nhớ một người đàn ông, mà cảm giác điều
gì đó trong mình đang thức dậy. Cô nghe rõ tiếng mưa hơn, ngửi mùi hoa như đậm
đà hơn. Có đêm cô thức giấc, tim đập nhanh như vừa chạy trốn ai đó.
Tuần sau, một cơn mưa lớn
đổ xuống cuối buổi chiều. Trẻ con được đón gần hết, chỉ còn ba đứa ở lại. Gió
quất nước vào hành lang. Hạnh đang đóng cửa sổ thì cánh cửa bật tung. Đức Minh
đứng ngay sau lưng, người ướt đẫm. “Sơ tránh ra,” anh nói rồi ghì cửa lại.
Khung cửa kẹt cứng, anh phải ép cả người vào. Hạnh đưa tay phụ. Trong khoảnh
khắc hỗn loạn của gió và nước, tay hai người chạm nhau trên then cửa. Cả hai
cùng rút lại.
Tối ấy, Hạnh nhận điện
thoại của Đức Minh. “Tôi để quên hộp màu.” “Dạ, mai lấy cũng được ạ.” Anh im
lặng vài giây rồi hỏi: “Sơ ổn không?” “Dạ ổn.” Đã lâu không ai hỏi cô như vậy. Đức
Minh khẽ cười. “Nghe giống cách Sơ trả lời học trò.” Anh dừng lại. “Nhà tôi
trước kia cũng có người nói thế đấy.” Lúc sau, anh nói chậm: “Sơ không biết nói
dối rồi.”
Hạnh lại mở hộp gỗ. Lần
này, cô không vẽ cánh đồng hay đôi tay trong nước, mà một người đàn ông đứng
dưới mưa, không rõ khuôn mặt, chỉ có đôi mắt. Vẽ xong, cô lặng lẽ giấu bức
tranh dưới nệm.
***
Hạnh
dần như sống hai cuộc đời. Ban ngày, cô vẫn điềm đạm, bước chân nhẹ nhàng, ánh
mắt biết dừng đúng lúc. Đêm xuống, một con người khác thức dậy. Người đó ngồi
trên mép giường, mở chiếc điện thoại giấu trong ruột gối, nhìn màn hình như
nhìn vào miệng giếng chờ một tín hiệu.
Tin
nhắn của Đức Minh đến không đều, lúc chỉ một chữ, lúc là tấm hình ly cà phê
cappuccino có trái tim trên lớp bọt. Có hôm chỉ một câu cũng đủ làm Hạnh trằn
trọc: “Cả ngày nay tôi nghĩ về Sơ.” Đêm khác: “Tôi từng có vợ. Cô ấy đi khi con
bé mới hai tuổi.” Mỗi lần nhận tin, Hạnh thường để rất lâu mới trả lời, có khi
đọc xong đặt điện thoại xuống rồi lại cầm lên, gõ vài chữ rồi xóa, rồi lại gõ.
“Anh đừng nhắn nữa.” “Vậy sao em vẫn đợi?” “Em không đợi.” Đức Minh lặng đi hồi
lâu mới nói: “Em không giỏi giấu đâu.” Có những đêm, Hạnh cầm điện thoại đến tê
cả tay, nhìn ba chấm hiện lên rồi tắt, như có người đứng ngoài cửa, muốn gõ mà
không dám.
Sơ
Têrêsa bắt đầu để ý. Bà thấy Hạnh đỏ mắt trong giờ chầu Thánh Thể, đôi lúc lơ
đãng quên nêm canh. Có lần, khi Đức Minh đứng trên thang vẽ nốt mảng tường cuối
sân, Hạnh đứng ở cửa lớp nhìn ra rất lâu. Một tối sau bữa ăn, bà kéo ghế cho
Hạnh ngồi xuống, giọng ân cần: “Dạo này em ngủ ngon không?” Hạnh khẽ đáp: “Dạ,
chắc tại trời nóng nên em khó ngủ.” Bà nhìn Hạnh rồi chậm rãi: “Có gì làm em
nặng lòng phải không? Đừng giữ một mình nhé!” Hạnh chỉ khẽ “dạ”. Sơ Têrêsa
không hỏi thêm. Ánh mắt bà dịu lại, nhưng âm ỉ một nỗi lo. Bà đã nhận ra cơn
gió lạ, mà chưa biết phải che chở cho cô thế nào.
Đêm
ấy, lần đầu Hạnh không trả lời tin nhắn. Cô quỳ trên nền gạch đọc kinh sám hối,
đến câu “xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, màn hình sáng lên: “Anh đứng
ngoài cổng.” Hạnh thoáng rùng mình. Cô hé rèm. Dưới tán cây sứ, Đức Minh đứng
đó, nhìn cánh cổng sắt khóa kín. “Anh đi ngay đi.” “Chỉ muốn nhìn nơi em ở.”
“Anh đi đi.” “Em đang sợ ai?” Hạnh gõ rồi xóa nhiều lần: “Sợ em.” Một chiếc xe
vụt qua, ánh đèn quét lên gương mặt Đức Minh. Rồi anh quay đi. Hạnh bấu chặt
song cửa.
Sáng
hôm sau, Hạnh đang cho trẻ tô màu thì một bé reo lên: “Sơ ơi, chú họa sĩ đến
kìa!” Cả lớp xôn xao. Hạnh quay lại, thấy Đức Minh đứng ngoài. Đúng lúc ấy, Sơ
Têrêsa từ hành lang đi xuống. Bà dừng lại, nhìn Đức Minh rồi nhìn Hạnh. Ánh mắt
bà lặng lẽ mà thẳm sâu như đã hiểu mọi điều. Đức Minh cất tiếng: “Thưa Sơ, con
đem trả lớp ít tượng mẫu.” Sơ Têrêsa gật đầu cảm ơn rồi bảo Hạnh mang vào lớp. Đức
Minh cúi đầu rồi quay đi. Khi lên xe, anh nhìn sang Hạnh. Cái nhìn ấy làm cô
như chao đi, mất hết trọng lượng.
***
Đức Minh
không nhắn tin đã ba ngày, nhưng Hạnh vẫn thấy như có nhịp rung trong túi áo.
Đêm nằm nghe gió đập cành sứ vào mái tôn, cô ngỡ tiếng xe dừng trước cổng.
Trong giờ kinh, vừa khép mắt đã thấy khuôn mặt anh hiện ra mờ ảo. Hạnh bắt đầu
sợ khoảng trống, sợ im lặng. Đêm sau, chiếc điện thoại giấu trong ruột gối sáng
lên. “Con gái anh nhập viện.” Hạnh bật dậy. “Bệnh gì anh?” “Viêm phổi cấp em ạ.”
Rồi tiếp: “Anh không biết nhắn cho ai ngoài em.” Hạnh gửi vội biểu tượng trái
tim và khuôn mặt khóc.
Từ
bé, Hạnh quen chăm người ốm. Bản năng ấy trỗi dậy đúng nơi nguy hiểm nhất. “Anh
ở đó với con. Đừng đi đâu.” Đức Minh trả lời ngay: “Em nói thêm câu nữa đi!”
“Câu gì?” “Bất cứ câu gì.” Hạnh nhìn màn hình mờ nước mắt rồi gõ: “Anh đừng
sợ.” Cô giữ chặt điện thoại, như thể chỉ cần buông ra sẽ mất nó.
Hạnh
mở ngăn kéo, lấy thỏi son đã mua từ lâu mà chưa dám dùng. Không hiểu vì sao, cô
vặn lên, tô chậm lên môi rồi bật khóc. Hạnh lấy tay quệt mạnh, son lem ra má,
ra cằm. Đúng lúc ấy có tiếng gõ cửa. Hạnh bàng hoàng. Thỏi son rơi xuống nền
gạch, lăn vào chân tường. Cô cuống cuồng lau mặt, càng lau càng nhòe nhoẹt. Tiếng
gõ mạnh hơn. Hạnh run tay chạm vào then cửa.
Sơ
bề trên bước vào, mang theo mùi dầu gió. Bà dừng lại, nhìn khuôn mặt lem nhem
của Hạnh, rồi nhìn chiếc gương còn vệt tay lau vội. Ánh mắt bà chùng xuống. Bà
cúi nhặt thỏi son đã bật nắp, khẽ đóng lại, rồi ngập ngừng: “Em có ổn không?”
Hạnh lúng túng, không biết trả lời thế nào. Sơ Têrêsa kéo ghế ngồi xuống. Hạnh
quay sang, nước mắt rơi xuống, ngập ngừng: “Em… em…” Sơ Têrêsa đặt tay lên tay
Hạnh, nói chậm: “Ngày mai em vào phòng tĩnh tâm mấy ngày, cho lòng lắng lại
nhé.” Nói xong, bà đứng dậy, khép cửa lại.
Suốt
đêm ấy, Hạnh ngồi lặng trên giường. Gần sáng, điện thoại sáng lên. “Con bé đang
trong phòng cấp cứu em ạ!” Hạnh đọc xong, tắt màn hình, đặt xuống rồi lại cầm
lên. Cô thở mạnh, nhưng lồng ngực vẫn không nhẹ đi. Cô biết mình không thể ngồi
thêm nữa. Ngoài kia, chuông bắt đầu ngân, chậm và nặng. Hạnh đứng bật dậy. Ý
nghĩ thoáng qua rồi bám chặt lấy cô. Cô mở cửa, bước nhanh qua hành lang, gần
như chạy về phía cổng. Cánh cổng vừa mở, cô lao ra ngoài, không ngoảnh lại, đi
thẳng vào màn đêm u tối. Sơ Têrêsa đã nhìn thấy. Bà không gọi, chỉ đứng lặng
một thoáng rồi quay vào. Ít phút sau, xe nhà dòng cũng rời sân, theo con đường
Hạnh vừa chạy qua.
***
Hạnh nhận ra chiếc áo của
Đức Minh trước khi nhìn thấy anh. Một y tá quay lại, hỏi nhanh vài câu rồi chỉ
về phía phòng cấp cứu. “Tai nạn giao thông. Đưa vào lúc gần sáng.” Hạnh đứng
sững. Ít phút sau, Sơ Têrêsa cũng đến. Bà lặng lẽ đứng bên Hạnh. Lúc trời vừa
rạng, bác sĩ bước ra. “Tạm qua cơn nguy kịch. Nhưng chưa nói trước được gì. Hai
mươi bốn giờ tới rất quan trọng.” Ngoài sân, trời đang nhạt dần, mưa đã tạnh.
Dưới mái hiên, Sơ Têrêsa khẽ đặt bàn tay ấm áp lên đôi vai đang run rẩy của
Hạnh. Cô đan chặt hai tay vào nhau, nước mắt tuôn trào. Bà siết nhẹ, mắt nhìn
về khoảng sáng đang lên sau hàng cây trước sân.
Trên đường về, Hạnh thấy
lòng mình dịu lại đôi chút. Về đến nhà dòng, cô vào thẳng phòng tĩnh tâm. Cửa
vẫn mở. Vệt son còn đó. Hạnh quỳ xuống, lấy khăn ướt lau. Màu đỏ nhòe ra, càng
lau càng loang. Cô buông tay, ngồi bệt xuống nền, òa khóc. Đúng giờ kinh sáng,
chuông vang khắp sân. Hạnh đứng dậy, soi vào mảnh kính cửa sổ. Gương mặt qua đêm
như già đi chục tuổi. Cô tháo chiếc lúp trên đầu, vuốt lại tóc. Chiếc áo dòng
được gấp gọn gẽ, đặt trên giường. Hạnh đứng yên rồi mới ra mở cửa. Sơ Têrêsa
bước vào, bà sững lại. Nhìn mái tóc của Hạnh và chiếc áo dòng gấp ngay ngắn đặt
gần cửa. Bà hỏi, giọng lạc đi: “Em quyết sao?” Hạnh cúi đầu. Sơ Têrêsa nhìn
Hạnh. “Em nghĩ ra ngoài sẽ bình yên sao?” Hạnh khẽ lắc đầu. “Dạ không.” “Vậy…?”
Sơ Têrêsa lặng lẽ ngồi xuống mép giường, vuốt lại vạt áo dòng. “Em đã được ơn
gọi rồi.” Hạnh nhắm mắt lại. Hơi thở dồn lên, rồi chậm lại. Hai bàn tay siết
chặt, rồi buông ra rất chậm. Hạnh quỳ xuống hôn tay Sơ bề trên. Bà ôm lấy Hạnh,
rồi đặt tay lên mái tóc cô rất lâu.
Khi Sơ bề trên rời đi,
Hạnh sấp mình dưới Cây Thánh Giá. Ánh sáng từ ô cửa cao trôi chậm trên tường, chạm
vào vệt son đã nhòe rồi đổ xuống nền gạch. Hạnh đứng dậy, bước lại gần. Cô đưa
tay chạm vào lớp màu đã khô, đầu ngón tay dừng lại rất lâu trên vệt đỏ loang.
Lát sau, Hạnh quay lại nhìn chiếc áo dòng. Cô đứng yên, rồi bước tới, áp chiếc
áo vào ngực, nhắm mắt lại. Tiếng chuông lại dội về. Hạnh mặc áo dòng và hôn
chiếc lúp trước khi đội lên đầu. Cô bước ra sân. Gió lùa qua hàng trúc, khẽ lay
cánh cửa gỗ.
Hải Phòng, 23/4/2026
M.V.P