Nơi bầy ong trở lại
(Truyện ngắn)
Mai Văn Phấn
Trằn trọc mãi đến gần sáng, Hưng thiếp đi
trong giấc mơ nơi cánh đồng trải dài ngút ngát. Xác ong chất thành đống, dồn
đến tận chân đê mới đắp. Những thân thể bé xíu, cánh nhàu nát, rỉ mật đen sẫm,
đặc quánh như máu. Trên cao, đứa trẻ đeo mặt nạ một loại côn trùng dữ tợn, quay
mặt ra biển. Gió lùa qua những lỗ nhỏ trên mặt nạ, vi vu như tiếng ong gọi nhau
về tổ cũ.
Hưng bừng tỉnh giữa mùi đất mặn nồng và tiếng
mái tôn lạch tạch. Trước nhà, những vạt sú vẹt non đang bén rễ, chắn sóng cho
dải phù sa mới bồi. Đây là vùng đất mới bồi cuối làng Kim Trạch, ven đê quai
lấn biển thuộc huyện Kim Sơn. Xưa kia, khi rừng còn dày, đây chính là vựa mật
của làng, cứ đến mùa hoa nở là ong về chật bãi, nuôi sống cả trăm nhà. Hưng
châm điếu thuốc, nhìn bầu trời đang rạng dần. Tiếng máy xúc từ công trường kè
biển vọng về, chát chúa và đột ngột. Mai vẫn chưa về. Đêm qua, cô trực ở trạm
kỹ thuật.
Hưng múc nước mưa trong chum sành rửa mặt.
Nước mát lạnh táp vào da thịt. Mùa này, đất chưa kịp ngọt lại đã phải đón những
đợt thủy triều mới. Cánh thanh niên vừa ra quân trồng lại vạt rừng ven đê. Họ
gọi đó là rừng kiểu mẫu. Nhìn những hàng cây tăm tắp cắm xuống bùn lầy, Hưng cứ
thấy chúng thiếu sức sống của rừng cũ. Hưng nhớ đến lời anh Toán, tổ trưởng kỹ
thuật, vốn là thợ nề, mới đi tập huấn mười ngày trước khi triển khai dự án.
“Cần nhất là tốc độ cây
sinh trưởng và mẫu chuẩn để báo cáo, chưa cần lo con ong.”
Trạm kỹ thuật nằm chếch về hướng tây. Ánh
nắng buổi chiều đổ nghiêng lên những chồng hồ sơ bìa bọc nylon. Trong lúc đợi
những hàng số chạy dài trên màn hình, Hưng lật lại chồng hồ sơ cũ. Anh dừng
trước những con số đã bị chỉnh sửa. Một số cột được sửa lại cho tròn trịa, các
ngưỡng cảnh báo cũng được nâng lên. Ngoài cửa, nắng đã xế. Tiếng ve rền vang
nghe đến nhức tai. Hưng tắt máy tính, bước nhanh ra phía rừng.
Ông Bình đang ngồi tước tre dưới hiên nhà.
Những thanh tre già được vót mảnh, đều tăm tắp, xếp thành từng bó nhỏ bên cạnh.
Dáng ông gầy nhưng rắn rỏi, bàn tay thoăn thoắt không cần nhìn ngó. Ông là
người đầu tiên được giao giữ rừng khi dự án mới bắt đầu. Suốt mấy năm, ông dựng
chòi giữa bãi bồi, ngày nào cũng lội bùn kiểm tra từng gốc sú, từng dấu chân lạ
lọt vào rừng. Khi dự án chuyển sang tay đơn vị khác, ông về lại thửa ruộng cũ,
không nhận thêm trợ cấp. Thấy Hưng tới, ông ngước lên.
“Hưng đấy à! Đến thăm rừng
hay thăm ong đấy?”
Hưng bước lên hiên, cười thân mật.
“Cháu đến thăm chú. Chú
tước tre đều tay thật đấy. Cái này để đan lờ hả chú?”
“Ừ, làm chơi cho vui thôi.
Mắt còn thấy, tay còn làm.”
Hưng ngồi xuống bên ông, tay xoay một thanh
tre.
“Dạo này chú khỏe không?
Nhà mình còn nuôi ong không ạ?”
“Cũng tạm gọi là khỏe,
nhưng mà buồn. Từ ngày ong bỏ đi, không còn giọt mật nào đem ra chợ. Ruộng
nhiễm mặn, rau cũng không lên nổi. Mật ong vốn là sinh kế của cả làng này đấy
cháu.”
Gió biển lùa qua mái hiên. Hưng nhìn ra bãi
đất thấp.
“Rừng đang được trồng
thêm, phủ lại dần mà chú. Thêm rừng, thêm hoa, ong rồi sẽ lại về thôi.”
Ông Bình cười, tay vẫn đưa con dao trên thanh
tre.
“Ôi dào, rừng cũ thì bị
chặt, bị đào hết lên để làm đầm tôm, bơm cát lấp kín bãi. Trước đây cứ độ giữa
xuân đến đầu hè là rừng trắng hoa, ong bay lấy mật như mây, thùng ong nào cũng
cho đầy mật. Giờ trồng lại toàn giống sú chịu mặn, sống dai thì có, mà không có
hoa. Không có hoa thì lấy gì mà giữ được ong?”
Hưng không nói. Rừng cũ giờ chỉ còn trong ký
ức. Hoa không nở, dân làng không dám nuôi ong nữa.
Cuối chiều, Hưng rẽ vào chợ làng. Bà Lành
đang gói cá khô cho khách. Chiếc áo bà ba bạc màu ướt đẫm mồ hôi, dính sát
lưng.
“Chào cậu kỹ sư! Lâu lắm
mới thấy cậu.”
Hưng cười, mua một gói cá nục rồi ngập ngừng
hỏi.
“Cháu nghe nói trước đây
bà cũng nuôi nhiều ong, phải không ạ?”
“Trước nhà cũng nuôi khá
nhiều. Vào mùa hoa sú vẹt, sáng ra ong bay đi hút mật rợp cả trời. Nhưng rồi
rừng cũ mất dần, rừng mới trồng thì không ra hoa, ong bay đi đâu cả, chẳng còn
gì.”
Ánh mắt Hưng lướt qua mớ hàng khô trên sạp.
Mùi mực cay, tôm nõn và những túi rong biển ép sẵn. Những chai mật ong màu cánh
gián từng xếp đầy trên chiếc kệ nhỏ giờ không còn nữa.
“Con gái bà vẫn ở trong
Nam ạ?”
“Ừ, nó đi làm công nhân.
Nó bảo ở đây mà chết đói à. Ruộng không có, ong cũng không còn, chẳng giữ chân
nó được.”
Hưng định nói gì đó nhưng thôi. Anh cầm gói
cá, nhìn ra con đường dẫn về phía đê.
Đêm ấy Hưng lại mơ. Anh lạc vào một tổ ong
không có ong. Những lớp sáp xám lạnh xếp chồng lên nhau, trống rỗng. Các vách
sáp phập phồng theo nhịp rất chậm. Trên một vách có dòng chữ đỏ. Một bà lão
ngồi ở góc tối, kéo từng sợi tơ mặn chát ra khỏi cuộn sợi. Mỗi sợi tơ mang theo
một dãy số.
Hưng đến gần.
“Bà đang quay gì vậy?”
Bà lão không trả lời. Bà rút một sợi tơ khỏi
suốt rồi đưa cho anh. Hưng nhìn những con số chạy dọc theo sợi tơ. Đó là số
liệu khảo sát trồng rừng phòng hộ những năm trước. Ở giữa dãy số có một dòng
chữ.
“Ngưỡng cảnh báo đã bị
điều chỉnh.”
Gió mặn thổi qua. Những vách sáp nhão ra rồi
tan xuống thành bùn. Hưng cố bước nhưng chân đã lún sâu. Trong lúc vùng vẫy,
anh thấy Mai đứng bên một thân sú trổ hoa trắng. Cô đưa tay về phía anh. Trên
đầu cô, đàn ong bay thành một vòng đen.
Hưng choàng tỉnh. Trong bóng tối, có tiếng gì
đó gõ vào cửa sổ. Anh ngồi dậy nghe một lúc. Không biết là sóng hay cánh ong
lạc đàn. Đúng lúc ấy, điện thoại rung.
“Em đang ở ngoài đê. Anh
ra đây nhé!”
Hưng ra đê khi trời mới rạng. Mai đứng trên
đoạn đê quai cũ, nơi từng bị vỡ trong cơn bão năm ngoái. Đoạn đê đã được đắp
lại bằng bao cát và rọ đá. Dưới chân đê, nước sủi bọt lăn tăn, có mùi rong mục
lẫn với mùi dầu máy.
Mai nhìn ra phía nước.
“Em vẫn nhớ mùi này. Năm
lớp tám, em đã từng bị cuốn xuống đoạn này. Người làng kéo lên được, nhưng con
chó nhà em thì mất tích. Mấy ngày sau xác nó mới dạt vào chân đầm.”
Mai nói xong vẫn nhìn xuống nước. Lúc sau,
Mai lấy từ túi ra một chiếc phong bì đã nhàu.
“Lần trước, em nói dối
anh. Về cái thư học bổng.”
Cô đưa phong bì cho Hưng. Bên trong là thư
mời nghiên cứu sau đại học của một trường ở Nhật. Thời hạn đã hết gần một năm.
“Em đã nhận thư mời này
nhưng không muốn đi, vì em tưởng mình có thể làm được điều gì đó ở đây. Giờ thì
em không chắc nữa.”
“Sao em không nói cho anh
biết từ trước?”
“Vì em sợ anh cũng đi.”
Hưng gấp lá thư lại.
“Dự án đang dùng dữ liệu
giả. Anh tìm thấy hồ sơ nội bộ bị chỉnh sửa. Có người đã nâng ngưỡng cảnh báo
mặn lên cao hơn thực tế, để độ mặn đo được vẫn nằm trong giới hạn an toàn trên
giấy.”
“Em nghi ngờ từ năm ngoái,
nhưng không đủ bằng chứng.”
Hưng quay lại nhìn Mai. Cô nói chậm.
“Em đã nghĩ nếu cố giữ
được một phần rừng, trồng thêm, giám sát tốt hơn, sẽ cứu được hệ sinh thái này.
Nhưng giờ em không chắc.”
Hưng không đáp. Một con chim biển sà xuống
mặt nước rồi bay về phía bãi bồi.
Anh nhớ lại những năm hai người còn là sinh
viên. Họ học cùng chuyên ngành Quản lý tài nguyên và Môi trường, thường ngồi
trong phòng thí nghiệm đến tối muộn để phân tích mẫu đất ven sông Hồng. Mai khi
ấy tóc buộc cao, thường cúi sát xuống bàn, nói mãi về những vùng đất ven sông
mà họ từng đi qua. Họ cưới nhau ngay sau khi ra trường, không bày nhiều tiệc
tùng, chỉ một bữa liên hoan với người thân, bạn bè và tấm bằng tốt nghiệp còn
thơm mùi giấy mới.
Hưng từng đùa.
“Chúng mình cưới nhau
trước khi có việc làm ổn định, liều như trồng rừng lấn biển vậy.”
Mai cười.
“Thì cứ cắm rễ đã, rồi
tính.”
Về Kim Trạch, họ được sắp xếp một căn phòng
nhỏ ngay trong trạm kỹ thuật. Tường ván ép, mái tôn rung lên mỗi khi gió lùa.
Khi ấy, họ chưa nói gì về tương lai. Chỉ tin rằng còn rừng, còn đất thì sẽ có
chỗ cho hai người. Hưng từng nghĩ tình yêu của họ cũng như rễ sú, rễ bần cắm
sâu trong đất, bền chặt, không dễ bị cuốn trôi.
Đêm đó, Hưng trở về trạm kỹ thuật, mở lại hồ
sơ. Độ mặn tăng chậm qua từng tháng. Những con số trên báo cáo không đi cùng
chiều với những con số trong dữ liệu gốc. Hưng dò từng bảng, đối chiếu từng
ngày đo. Một số cột đã được sửa. Một số ngưỡng đã được nâng lên. Ngoài kia,
lượng mưa vẫn ít, nước biển tiếp tục dồn vào những vùng đất thấp.
Hưng hít sâu. Vị muối len vào cổ họng. Anh
nhớ lần đầu đặt chân đến vùng đất bồi này, từng tin đó là lựa chọn đúng đắn
nhất. Giờ trước mắt vẫn là bùn mặn và những thân cây gầy guộc. Anh cất tập hồ
sơ vào cặp.
Cuộc họp diễn ra đúng vào đêm áp thấp nhiệt
đới chuyển thành bão. Sân nhà văn hóa ngập nước từ trưa. Gió quất qua những khe
cửa, dội vào những tấm pano phai màu treo trên vách. Hưng đến muộn. Mai đã ngồi
ở hàng ghế đầu, cạnh ông Lâm, Phó chủ tịch xã, người làm chủ tọa. Bà Lành ngồi
phía bên kia, giữa những người dân trong làng.
Ông Lâm gõ cây bút xuống bàn rồi đứng lên.
“Thưa bà con! Tôi xin
tuyên bố khai mạc cuộc họp đánh giá tình hình thực hiện dự án trồng rừng phòng
hộ kiểu mẫu của xã ta, cụ thể là làng Kim Trạch, nơi thực hiện thí điểm đầu
tiên. Bên kỹ thuật báo hệ thống bơm vẫn hoạt động bình thường...”
Ông Lâm nhìn quanh hội trường.
“Hôm nay mời mọi người ra
đây để nghe anh Hưng, chị Mai nói thật về tình hình rừng sú vẹt của làng mình.
Có gì khuất tất, cứ đưa hết ra ánh sáng.”
Mai đứng dậy.
“Thưa ông Lâm, thưa bà
con! Bão sát nách rồi. Tôi xin phép để anh Hưng nói thẳng vào những con số thực
tế mà chúng tôi mới tìm được.”
Hưng mở tập hồ sơ.
“Thưa bà con! Tôi xin
trình bày số liệu thật, không phải số liệu đã báo cáo lên tỉnh. Theo những hồ
sơ lưu này thì các chỉ số mặn đã vượt ngưỡng từ mười bốn tháng trước. Dữ liệu
gốc đã bị can thiệp. Ngưỡng cảnh báo đã được nâng lên cao hơn thực tế để những
số liệu đo được vẫn nằm trong giới hạn an toàn trên báo cáo. Dự án này đã đi
chệch từ lâu. Nếu độ mặn cứ tiếp tục tăng thế này, không chỉ lụi rừng, mất ong,
mà con đê quai cũng có nguy cơ sụp lở.”
Trong hội trường có tiếng xì xào. Một người
phụ nữ đứng bật dậy.
“Thế thì mấy năm nay chúng
tôi trồng cây để làm gì? Cây chết, đất mặn, ong mất, rồi cán bộ cứ bảo dự án
đang tốt lên?”
Một thanh niên ngồi cuối hội trường nói vọng
lên.
“Nhà tôi bỏ nuôi ong hai
năm rồi. Có ai xuống hỏi đâu.”
Mai đứng lên.
“Rừng kiểu mẫu trồng đồng
loạt, một loài, một lứa, trụi cả tầng cỏ. Đất mặn vượt ngưỡng. Cây phải giữ
năng lượng nuôi thân lá, chúng còi cọc, không còn đủ điều kiện để sinh sản nên
không ra hoa. Có thể đó là một trong những nguyên nhân khiến ong bỏ đi. Chúng
tôi thấy có trách nhiệm phải trình bày để bà con hiểu rõ tình hình thực tế.”
Một người đàn ông phía dưới đập tay xuống
bàn.
“Thế tiền đổ vào đây bao
nhiêu năm nay thì sao?”
Không ai trả lời ngay. Ông Lâm nhìn Hưng rồi
nhìn Mai.
“Các anh chị có chắc những
số liệu này là đúng không?”
Hưng đặt tập hồ sơ lên bàn.
“Tôi chịu trách nhiệm về
phần số liệu tôi vừa trình bày. Đây là dữ liệu gốc, đây là bản đã được chỉnh
sửa. Bà con có thể xem.”
Mai nói.
“Nếu những gì chúng tôi
tìm được là sai, chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm. Nhưng nếu đúng thì không thể
tiếp tục báo cáo như cũ.”
Bà Lành đứng lên.
“Tôi chỉ biết trước kia
nhà tôi sống được nhờ ong. Bây giờ không còn ong, con gái tôi phải vào Nam làm
công nhân. Nếu cứ trồng cây như thế này, mai kia đất cũng không trồng được gì
nữa.”
Ông Bình chống tay vào thành ghế.
“Thế bây giờ làm gì?”
Cả hội trường quay về phía Hưng và Mai. Hưng
chưa kịp nói thì Mai đã nhìn sang ông Lâm.
“Trước mắt phải dừng những
phần trồng mới chưa cần thiết. Giữ những mảng rừng còn sống. Kiểm tra lại độ
mặn ở từng khu vực. Không thể lấy một chỉ số chung để áp cho cả bãi bồi.”
Hưng nói tiếp.
“Và phải giữ những khu
rừng cũ còn sót lại. Không đào đầm, không tiếp tục san lấp. Người sống ở đây
phải được tham gia vào việc giám sát. Họ biết bãi bồi này thay đổi thế nào qua
từng mùa.”
Ông Lâm ngồi im một lúc rồi gật đầu.
“Nếu số liệu đúng, dự án
phải dừng những phần đang làm sai. Còn chuyện lâu dài, xã sẽ phải bàn lại với
bà con.”
Bà Lành nói lớn.
“Bàn thì phải có chúng
tôi. Không thể cứ họp với nhau rồi về bảo dân làm gì thì dân làm nấy.”
Ông Lâm nhìn bà Lành.
“Được. Việc này tôi ghi
nhận.”
Cả hội trường vỗ tay rào rào.
Ngoài trời, gió rít dữ dội. Tiếng cành cây
gãy đập xuống mái nhà. Một tiếng rầm vang lên khiến mọi người giật thót. Một
cậu bé lao vào.
“Nước tràn vào đê phụ phía
Nam rồi! Cây mới trồng bị gió quật bật gốc rồi!”
Mọi người bật dậy, kẻ chạy về nhà, người lao
ra cứu đê. Trong lúc vội vã, Hưng quay sang Mai.
“Có lẽ chúng ta đã chậm
mất rồi.”
“Đi thôi.”
Ngoài đê, nước đã tràn qua một đoạn. Gió quất
ràn rạt, mưa tạt vào mặt đau rát. Những cây sú non bật gốc, nằm ngổn ngang
trong bùn. Hưng cùng mấy thanh niên kéo bao cát về phía đoạn đê thấp nhất. Ông
Bình lội xuống trước, dùng chân dò từng chỗ đất nhão. Bà Lành đứng trên bờ
chuyền bao cát.
Một đợt sóng đánh vào thân đê. Bùn đất dưới
chân Hưng sụt xuống. Anh ngã quỵ, hai tay bám vào một cọc tre. Một thanh niên
kéo anh lên.
“Anh Hưng, coi chừng!”
Hưng đứng dậy, tiếp tục kéo bao cát. Mai vẫn
ôm chặt túi hồ sơ. Cô chạy về phía trạm bơm, gọi người mở cống thoát nước. Mọi
người làm việc trong tiếng gió và mưa. Không ai còn nhắc đến cuộc họp.
Gần sáng, nước rút bớt. Đê phụ bị sạt vài đoạn
nhưng không vỡ. Những cây sú non mất gần một nửa. Hưng ngồi xuống bậc đá, hai
bàn tay đầy bùn. Ông Bình ngồi cạnh anh, thở dốc.
Vài ngày sau, đoàn kiểm tra liên ngành từ
tỉnh về Kim Trạch. Họ mang theo thiết bị đo hiện trường, lấy mẫu đất, mẫu nước,
kiểm tra độ mặn và sinh khối rừng. Tại trạm kỹ thuật, Hưng bàn giao bản đối
chiếu giữa dữ liệu gốc và bản báo cáo đã bị chỉnh sửa. Đoàn sao chụp toàn bộ hồ
sơ, phỏng vấn bà Lành, ông Bình và một số hộ nuôi ong. Chiều ấy, tại trụ sở xã,
người ta bắt đầu nói đến việc lập tổ giám sát và dừng những hạng mục chưa cần
thiết. Ông Bình và bà Lành được mời tham gia. Những người sống lâu năm với bãi
bồi bắt đầu có tiếng nói trong những cuộc họp vốn trước đây chỉ có cán bộ và kỹ
thuật viên.
Mấy tuần sau cơn bão, vùng đất Kim Trạch vẫn
ngai ngái mùi rong rêu trôi dạt. Những vết nứt trên sườn đê được vá lại. Các
rãnh tiêu nước gần chân đê được khơi thông. Hưng đi dọc bãi bồi vào buổi chiều.
Tán sú vẹt vừa nhú đợt lá mới. Vài con ong nhỏ bay ngang qua rồi mất hút sau
tán cây.
Bà Lành dựng lại mấy thùng ong bên mép rừng.
Một nhóm sinh viên về thực tập ở lại suốt mùa mưa để khảo sát đất và nước ngầm.
Mai nhận lời tham gia một dự án nghiên cứu liên vùng. Hưng vẫn ở lại trạm kỹ
thuật. Những ngày không phải đo mẫu, anh cùng đám sinh viên ra bãi bồi, chỉ cho
họ cách nhận biết đất qua từng lớp bùn, lần theo những thay đổi nhỏ của nước và
cây.
Đêm cuối xuân, Hưng mơ thấy làng Kim Trạch.
Những mái nhà nằm san sát. Con đê cong dài chạy qua bãi bồi. Những thân sú vẹt
mọc lên từ bùn, không thẳng hàng như những cây trong khu rừng kiểu mẫu mà chen
nhau, cây cao cây thấp, cành đan vào nhau. Hoa sú trắng từng chùm. Ong bay trên
những tán cây. Dưới chân anh, những dãy số từng khiến anh thức trắng đêm nằm
rải rác như những mảnh giấy ướt. Nước tràn qua. Mực trên giấy nhòe đi. Từ những
chỗ mực tan, những chùm hoa trắng mọc lên. Một đàn ong bay qua đầu anh. Anh
nhìn thấy bà Lành ở cuối bãi. Ông Bình đang cúi xuống xem một gốc cây. Mai đứng
gần mép nước, quay lưng về phía anh. Anh gọi tên cô nhưng không nghe thấy tiếng
mình. Mai quay lại. Trên tay cô có một cành sú vừa nở hoa.
Hưng tỉnh giấc khi ngày mới vừa hé rạng. Gió
biển lùa qua khe cửa, mang theo mùi mặn mòi của muối và tiếng lá sú vẹt xào
xạc. Mai đã đi làm từ sớm, có lẽ đang cùng nhóm sinh viên ngoài bãi. Trên bàn,
tờ giấy được chặn bởi một mảnh san hô trắng. Đó là bản in vệ tinh vùng ven biển
kéo dài tới tận mép rừng, nơi Mai đã dùng bút màu vạch một đường ngoằn ngoèo
nối từ trạm kỹ thuật đến vạt rừng mới bồi.
Từ phía rừng vọng lại tiếng rù rì, là tiếng
bầy ong đang tìm về tổ cũ, cũng có thể chỉ là tiếng gió đang thổi qua ký ức.
Anh khoác áo, bước nhanh ra ngoài.
Kim Sơn, 05/6/2025
M.V.P
(Đã đăng: Tạp chí Văn Nghệ Ninh Bình, số 305+305/5/2025)
