TELEFONON TÉGED HALLGATVA / Nghe em qua điện thoại / Hearing You on the Phone (Vers – Thơ – Poem). Mai Văn Phấn. Angolból magyarra fordította Halmosi Sándor. Halmosi Sándor dịch từ tiếng Anh sang tiếng Hung-ga-ri

Mai Văn Phấn

Angolból magyarra fordította Halmosi Sándor

Halmosi Sándor dịch từ tiếng Anh sang tiếng Hung-ga-ri

From English into Hungarian translated by Halmosi Sándor

 

 

 

 

 

 

Nhà thơ Halmosi Sándor nhận Bằng danh dự  thành viên của Viện Khoa học, Nghệ thuật và Văn học châu Âu, 2019

 

 

 

 

 

Maivanphan.com: Nhà thơ Halmosi Sándor (Hung-ga-ri) vừa gửi tôi chùm thơ do ông chọn từ tập thơ “The Selected Poems of Mai Văn Phấn” (Nxb Hội Nhà văn, 2015) của tôi qua bản tiếng Anh của Nhat-Lang Le, Nguyễn Tiến Văn và Susan Blanshard để dịch sang tiếng Hung-ga-ri. Xin trân trọng cảm ơn Nhà thơ Halmosi Sándor đã dành thời gian và tâm huyết cho thơ của tôi!

 

Poet Halmosi Sándor (Hungary) has just sent me bunch of poems selected by himself from my poetry book “The Selected Poems of Mai Văn Phấn” (Publishing House of The Vietnam Writer’s Association, 2015) in English version by Nhat-Lang Le, Nguyễn Tiến Văn and Susan Blanshard to be translated into Filipino language. I would like to give my respectful thanks to Poet Halmosi Sándor for having spent time and devotion on the translation for my poetry!

 

 

 

 

 

TELEFONON TÉGED HALLGATVA

 

 

Telefonon keresztül a hangod tiszta és könnyű

 

Egy csepp víz éppen felszívódott

Bomlik egy hajtás

Egy érett gyümölcs leesett

A tavasz csak folyik tovább

 

A távolban, a sor másik végén rizsmezők, falusiak bambuszoszlopokat és kosarakat hordoznak. Járművek és tornyok. Mély gyökerek. A hangod nem keresztezi őket, de miniatúrákká változtatja őket, és kommunikációs átjárókat nyit közöttük. Hallak, és a mély gyökerek segítségével több szent réteget nyithatok fel a föld meleg hasában; a folyó az oszlopokba és a kosarakba áramlik; a falvak termékenységi tornyokat szülnek; a rizsmezők a közlekedési járművek ellenére is zöldek.

 

Mondj kérlek még több spontán ostobaságot nekem.

 

Abban a pillanatban, amikor leteszed a kagylót, talán minden dolog feloldódik

vagy eredeti helyére tér vissza

 

Csak a távol ringó hullámokkal maradtunk

Csak a klorofill szétáradásával

Az érzékenység illatával

És a sziklás padok minden remegésével

 

 

 

 

 

Nghe em qua điện thoại

 

 

Tiếng em trong điện thoại rất trong và nhẹ

            Một giọt nước vừa tan

            Một mầm cây bật dậy

            Một quả chín vừa buông

            Một con suối vừa chảy

Khoảng cách tới đầu dây bên kia là ruộng đồng, làng mạc, quang gánh. Là xe cộ, tháp dựng, rễ sâu. Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại, mở thông những cánh cửa sang nhau. Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ.

Nói tiếp cho anh những câu bâng quơ không nội dung

Lát nữa em đặt ống nghe, chắc mọi vật sẽ loay hoay tìm về đường cũ

            Chỉ còn gợn sóng lan xa

            Chỉ còn tan trong diệp lục

            Chỉ còn thoảng bay dịu ngọt

            Chỉ còn bờ đá lung lay

 

 

 

 

 

Hearing You on the Phone

 

 

On the phone your voice sounds clear and light

 

A drop of water just absorbed

A sprout just emerged

A ripe fruit just dropped down

A spring just flowing on

 

In the distance, at the other end of the line, there are rice-fields, villagers carrying bamboo poles and baskets. Vehicles  and towers. Deep roots. Your voice does not cross over them but turns them into miniatures, and opens passage doors of communication between them. I hear you and with the help of deep roots, I can open up multiple sacred layers inside the warm earth; the river flows into the poles and baskets; the villages give birth to towers of fertility; the rice fields are green against traffic vehicles.

 

Please say more spontaneous nonsense to me.

 

In a moment when you put down the receiver, perhaps all things would dissolve away or return to the way they were

 

  Only left with the rippling of waves far away

  Only left with the chlorophyll dispersing

  Only left with the fragrance of tenderness

  And the rocky banks in all their trembling

 

(Trans. by Nguyễn Tiến Văn. Edited by Susan Blanshard)

 

 

 

 

 

 

 

Nhà thơ Halmosi Sándor

 

 

 

 

 

HALMOSI SÁNDOR életrajza

 

 

Halmosi Sándor (Szatmárnémeti, 1971), költő, műfordító. Halmosi Sándor 1971-ben, Szatmárnémetiben született. Költő, műfordító, tagja a Magyar Írószövetségnek és a FISZ-nek. A stuttgarti ECHIvOX Irodalmi és Művészeti Társaság elnöke. 2003-ban Prima Verba-díjat kapott, rendszeresen publikál, több önálló verseskötete jelent meg. Művei a

Holdkatlanon:

Halmosi Sándor versei (Pont, mint a nagyapád, Remegés I, A csend kettős természete, Három gazella).

Halmosi Sándor három verse a JA JA-DÍJAS KÖLTŐ ciklusból.

Válogatás Halmosi Sándor rögtönzött verseiből (Hajnóczy szalonspicc, A vers születése, Basule blues).

Halmosi Sándor versei (Pogány zsoltár II, Mind több homok, Remegés III).

Halmosi Sándor versei (A férfi útja, A hosszútávfutó útja, A politikus útja, A homo politicus útja, A zenész útja, Az angyalok útja, A nő útja).

Halmosi Sándor: Mi lenne, ha.

Halmosi Sándor versei (Critical mass I., Critical mass II., Jézus alae IV., A mester útja, A tanítvány útja).

 

 

 

 

 

Tiểu sử HALMOSI SÁNDOR

 

 

HALMOSI SÁNDOR, nhà thơ người Hungary, dịch giả văn học, nhà xuất bản và nhà toán học, sinh tại thành phố Szatmárnémeti (hay còn gọi là Satu Mare), Romania vào năm 1971. Anh sống tại Đức trong 16 năm, nhưng hiện tại anh đang sống tại Budapest, Hungary. Bên cạnh những hoạt động văn chương của mình, anh còn có những bài nói chuyện về truyền thống, thơ ca, những hướng đi, riêng lẻ và mang tính cộng đồng trong việc mở rộng từ mâu thuẫn tinh thần, thời kỳ sơ khai của ngôn ngữ, về những biểu tượng. Anh coi nó là nhiệm vụ của mình để nuôi dưỡng tài năng và thúc đẩy thơ ca; anh còn là người tin tưởng vào đối thoại văn hoá.

CÁC TÁC PHẨM CỦA ANH ( TIẾNG HUNGARY ):

Showing off with the Demons ( tạm dịch: Phô bày với quỷ dữ ) (2001).

You were a Sun Girl ( tạm dịch: Em là cô gái mặt trời ) (2002).

Laurel Grove ( tạm dịch: Lùm cây nguyệt quế nhỏ ) (2003).

It belongs to Solomon (tạm dịch: Nó thuộc về Solomon) (2004).

On the Southern Slopes of Annapurna – Book of Lovers ( tạm dịch: Trên những dãy núi phía Nam xứ Annapurna – Cuốn sách của những người đang yêu ) (2006).

Gilead (2009).

Blue Tuesday – Selection from Franz Hodjak’s oeuvre ( tạm dịch: Thứ Ba ngày xanh – Tuyển tập từ những sáng tác của Franz Hodjak ) (2009).

Ibrahim – The taste of mint ( tạm dịch:  Ibrahim – Mùi hương của sự tươi mới ) (2011).

The Passion of Lao-Tse ( tạm dịch: Niềm đam mê của Lão Tử (2018).

 

 

 

 

 

Mai Văn Phấn életrajza

 

 

Mai Văn Phấn vietnámi költő 1955-ben született Ninh Bình-ben, a Vörös-folyó deltájában, Észak-Vietnámban. Jelenleg Hải Phòng városában él. Számos vietnámi és nemzetközi irodalmi díjat nyert, köztük a Vietnámi Írók Szövetségének díját 2010-ben, a svéd Cikada irodalmi díjat 2017-ben és a Szerb Tudományos és Művészeti Akadémia díját 2019-ben. 16 verses- és egy kritikai esszé-kötete jelent meg Vietnámban. Külföldön, beleértve az Amazon terjesztői hálózatot is, 18 kötete jelent meg. Mai Văn Phấn verseit eddig 30 nyelvre fordították.

 

 

 

 

 

 

Natural Beauty of Hungary

 

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
image advertisement
image advertisement

image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị